Tài nguyên THƯ VIỆN

GÓC LỊCH SỬ- tự hào việt nam

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bản tin thư viện

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    486535576_687504323842812_4192407978136768961_n.jpg 486500788_687500893843155_8917663302820642951_n.jpg 486401439_687500637176514_6347543047210448692_n.jpg 486294196_687501327176445_6249731343958734534_n.jpg 486256531_687505017176076_4698278582158444056_n.jpg 486146484_687504613842783_7808117533976263193_n.jpg 486140471_687504337176144_5997173459261202020_n.jpg 486128752_687501447176433_2153146775747211441_n.jpg 486117905_687501973843047_5705350894154693155_n.jpg 486108360_687500860509825_7055729163068952091_n.jpg 486100845_687500907176487_7489795251974386868_n.jpg 486035662_687502307176347_2028289640818027344_n.jpg 486024179_687504430509468_37485015750359318_n.jpg 486011789_687502430509668_5915568254882798963_n.jpg 485931918_687500883843156_1958291412881915226_n.jpg 485926560_687504983842746_1036604437140465450_n.jpg 485926242_687504607176117_474982271559330172_n.jpg 485901515_687501970509714_3422404357053098050_n.jpg 485897349_687502257176352_7447090423107471980_n.jpg 485879015_687504650509446_564184650854094885_n.jpg

    sách nói

    Tủ sách kỹ năng sống

    Góc an toàn giao thông

    Please come in

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG - XÃ THANH MIỆN - TP HẢI PHÒNG

    THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG GIỚI THIỆU SÁCH CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 26/3

    Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường Tiểu học Tứ Cường- Xã Thanh Miện- Thành phố Hải Phòng

    Sử Việt 12 khúc tráng ca

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vương Thị Thu Hà
    Ngày gửi: 11h:38' 08-01-2026
    Dung lượng: 954.3 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Thực hiện ebook: BSapien.
    Cuốn sách này dành tặng mẹ tôi

    https://thuviensach.vn

    LỜI NÓI ĐẦU
    Một dân tộc chỉ có thể bước đến tương lai trên đôi chân vững vàng của
    lịch sử. Bởi lịch sử là bài học tiền nhân để lại cho hậu thế, là kho tàng kiến
    thức phát triển tương lai, tránh những sai lầm của quá khứ.
    Đối với tôi, lịch sử là những câu chuyện, không phải là những thống kê
    khô khan. Quan điểm của tôi về lịch sử khá đặc biệt. Tôi định nghĩa lịch sử
    là bài học của tiền nhân. Vì thế lịch sử phải là những câu chuyện để dẫn dắt
    lớp trẻ đến với tình yêu và sự đam mê khám phá.
    Dựa trên những tài liệu sử học đã có và được công nhận, cuốn sách vì thế
    sẽ kể lại những câu chuyện lịch sử qua góc nhìn mới mẻ hơn.
    Nói theo cách nhìn lãng mạn, tôi giống như gã thanh niên đi góp nhặt các
    câu chuyện cũ ngàn năm sương khói thành các nốt nhạc mà viết lên 12
    khúc ca, tổng hòa thành một bản hùng ca lịch sử, để bạn yêu quê hương
    hơn, yêu dân tộc hơn và nhìn vào các bậc tiền nhân mà xây dựng bản lĩnh
    Việt hôm nay.
    Cuốn sách này không phải là dã sử, những chi tiết được kể lại trong cuốn
    sách lấy từ chính sử. Nhưng cuốn sách với rất nhiều câu chuyện về những
    anh hùng dựng nước và giữ nước như Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lê
    Thánh Tông... sẽ được kể lại với sự mềm mại nhất, hùng tráng nhất. Có lẽ
    bởi thế mà xin được đứng vào khoảng giữa vậy, vừa đủ tư liệu chính sử để
    bạn hiểu và nhớ về sử nước nhà vừa đủ ly kỳ để đưa hồn xưa thẩm đượm
    vào từng câu chuyện, ngõ hầu mang bạn đến gần tình yêu sử Việt hơn mà
    yêu dân tộc ta hơn.
    Vì cuốn sách còn nhiều hạn chế, lại không có điều kiện để gặp từng tác
    giả đi trước, hòng nói lời cảm ơn chân thành, rồi nhờ thế mà được quý vị

    https://thuviensach.vn

    bổ sung kho sử liệu còn khiếm khuyết của bản thân nên tôi vô cùng cảm
    kích nếu nhận được sự góp ý chí tình của quý vị gần xa.
    Dũng Phan
    (TP. Hồ Chí Minh, mùa xuân, 2017)

    https://thuviensach.vn

    KHÚC CA 1:

    TIẾNG NHẠC DẠO ĐẦU

    DÒNG HỌ KHÚC, ĐẶT NỀN MÓNG
    TỰ CHỦ
    Đã bao giờ trên những trang sách lịch sử viết về thời kỳ Bắc thuộc,
    các bạn tự hỏi: Vì sao chỉ có chiến thắng của Ngô Quyền trên sông
    Bạch Đằng là chấm dứt được 1000 năm Bắc thuộc, trong khi các cuộc
    khởi nghĩa trước đó của Bà Trưng, Bà Triệu, của Lý Nam Đế, Triệu
    Quang Phục, của Phùng Hưng, hay của Mai Thúc Loan chỉ là những
    chiến thắng ban đầu gây tiếng vang và rồi nhanh chóng bị dập tắt?
    Câu trả lời mấu chốt có liên quan đến một dòng họ quan trọng trong
    lịch sử dân tộc: dòng họ Khúc.
    Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Kể
    từ ngày ấy, quân phương Bắc không còn trở lại và đất nước ta chấm dứt
    1000 năm Bắc thuộc. Nhưng tại sao quân phương Bắc không còn trở lại để
    đánh Ngô Quyền nữa? Bởi vì họ đã nhìn thấy nước Nam như một quốc gia
    riêng biệt khó bề chế ngự. Chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch
    Đằng không phải là một cuộc khởi nghĩa đơn thuần như các cuộc khởi
    nghĩa trước đó, mà trận đánh này là cuộc chiến giữa hai vùng đất tự chủ:
    vùng đất Giao Châu do người nước Nam quản lý và vùng đất Nam Hán của
    vua Lưu Nham phương Bắc. Khác với tính chất một cuộc khởi nghĩa vùng
    lên bột phát bởi sự cai trị hà khắc của kẻ cầm quyền, tính chất của trận đánh
    ở Bạch Đằng là sự ngăn chặn Nam Hán xâm chiếm trở lại An Nam. Những
    gì Ngô Quyền có hôm ấy không phải là một sự manh mún, nhỏ lẻ như Bà
    Trưng Bà Triệu... ngày nào mà là một chính quyền và quân đội rõ ràng.

    https://thuviensach.vn

    Chính quyền ấy đã được tạo nên từ cách đó hơn 30 năm, dưới tay của một
    vị hào trưởng thuộc đất Hồng Châu, tỉnh Hải Dương: Khúc Thừa Dụ. Ba
    đời dòng họ Khúc (Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ) đã xây
    dựng một chính quyền của nước Nam riêng biệt với phương Bắc, với một
    nền kinh tế tự chủ và một đội quân bảo vệ Giao Châu hoàn toàn của người
    Việt.
    Bởi vậy điểm mấu chốt cho thắng lợi của Ngô Quyền không phải là
    chiến thuật trên sông Bạch Đằng mà ở cái gốc rễ được tạo dựng dưới chân
    Ngô Vương trước đó. Bạch Đằng chỉ là chiến trường để phân định thắng
    thua, là nơi ghi nhận tài năng quân sự của Ngô Vương, còn phía sau lưng
    Ngô Vương thì quyền lực đã được quản lý đến cấp địa phương. Sự khác
    biệt quan trọng của một chính quyền “ăn sâu bén rễ” đến cấp thôn làng đã
    giúp Ngô Quyền, chứ không phải Hai Bà Trưng hay Lý Nam Đế, mới là
    người chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc của dân tộc.

    1. Khúc Thừa Dụ
    “Thời thể tạo anh hùng”, câu nói ấy chính ứng vào Khúc Thừa Dụ. Cuối
    thế kỷ IX, nhà Đường đi vào giai đoạn suy vong. Sự suy yếu đến tận gốc rễ
    của một trong những triều đại hùng mạnh nhất Trung Quốc đã tạo điều kiện
    cho vương quốc của người Bạch và người Di tên là Nam Chiếu hùng mạnh
    lên. Nam Chiếu đã tấn công thẳng vào An Nam, cạnh tranh nhà Đường.
    Nhưng sự suy yếu của nhà Đường cùng sự đi xuống của Nam Chiếu theo
    thời gian viễn chinh đã dẫn đến một cuộc chiến tương tàn mà cả hai bên
    đều thất bại, cuối cùng chỉ có người Việt chiến thắng. Sự rối ren đã đưa
    quyền lực đến cho quyền thần Chu Toàn Trung. Lúc này, Chu Toàn Dục là
    tiết độ sứ An Nam nhưng sau đó lại được thay bằng tiết độ sứ Độc Cô Tổn.
    Độc Cô Tổn lại không được lòng quyền thần Chu Toàn Trung, cuối cùng bị
    giết. Đất An Nam không có tiết độ sứ, còn chính quyền đô hộ như rắn mất
    đầu.

    https://thuviensach.vn

    Chính lúc này vị anh hùng của chúng ta là Khúc Thừa Dụ bước chân lên
    vũ đài lịch sử. Ông là một hào trưởng thuộc đất Hồng Châu, tỉnh Hải
    Dương. Được dân chúng ủng hộ, ông đã cùng với bộ thuộc tiến quân ra
    chiếm đóng phủ thành Tống Bình (Hà Nội) và tự xưng là tiết độ sứ. Việt sử
    thông giám cương mục (Tiền biên, quyển 5) chép lại: “Họ Khúc là một họ
    lớn lâu đời ở Hồng Châu. Khúc Thừa Dụ tính khoan hòa, hay thương
    người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời buổi loạn lạc, nhân danh là hào
    trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là tiết độ sứ.” Như vậy, Khúc Thừa Dụ đã
    thực hiện một màn cướp chính quyền trong âm thầm và đẩy nhà Đường vào
    thế sự đã rồi, buộc phải công nhận tước vị của ông. Sự khôn khéo của Khúc
    Thừa Dụ nằm ở chỗ, ông không dựng cờ để gây sự chú ý mà âm thầm xây
    dựng một chính quyền của người Việt và cho người Việt. Ông đứng trên
    danh nghĩa là tiết độ sứ của nhà Đường, là người thuộc bộ máy đô hộ,
    nhưng phía sau lại làm công việc của một người giành độc lập. Đấy là
    chuyển quyền tự chủ dân tộc sang cho người Việt, một cách khéo léo.
    Trí tuệ của Khúc Thừa Dụ còn ở cái cách khiến cho nhà Đường phong
    hàm tước đồng bình chương sự cho ông. Rồi dùng chính chức tước ấy, ông
    phong cho con là Khúc Hạo chức vụ Tĩnh Hải hành quân tự mã quyền tri
    lưu hậu, tức là chức vụ chỉ huy quân đội và sẽ thay thế nắm quyền hành tiết
    độ sứ khi cha mất đi. Ông muốn rằng, nếu một ngày mình tạ thế thì quyền
    lực vẫn trong tay người Việt.
    Ngày 23 tháng 7 năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, người đời sau thương
    mến gọi ông là Khúc Tiên chủ, dù cho ông chưa hề xưng đế hay xưng
    vương. Con ông - Khúc Hạo - lên nắm quyền chức tiết độ sứ thay cha, và
    lúc này, Khúc Hạo chứng minh bản lĩnh của một người kế thừa xứng đáng.
    Khúc Hạo là một nhà cải cách lớn ngay từ thế kỷ X, một nhân tài trị quốc
    dường như đã bị bỏ quên và cần ghi công lại trong dòng chảy của lịch sử
    dân tộc.

    2. Khúc Hạo
    https://thuviensach.vn

    Lúc này, nhà Đường đã mất, Trung Quốc bước vào giai đoạn “Ngũ đại
    Thập quốc(1)”. Nhà Hậu Lương một lần nữa muốn quay trở lại thôn tính
    nước ta. Vua Hậu Lương là Chu Ôn (tức Chu Toàn Trung) phong cho Lưu
    Ẩn chức tiết độ phó sứ Quảng Châu, nhưng lại kiếm thêm Tĩnh Hải quân
    tiết độ, An Nam đô hộ, như một cách gián tiếp cho phép Lưu Ẩn được
    quyền quay lại An Nam nắm quyền. Đứng trước tình thế nguy hiểm ấy,
    Khúc Hạo mềm mỏng xưng tôi với vua Hậu Lương, đưa vàng bạc qua
    thương thuyết. Ông đối ngoại khôn khéo và giữ yên được bờ cõi, tránh
    được một cuộc can qua. Cùng với đó là đường hướng đối nội, Khúc Hạo
    tiến hành cải cách ở hai mặt hành chính và kinh tế để giúp nước Việt vững
    mạnh, nhằm đương đầu khi có chiến tranh, xác lập tự chủ lâu bền.
    Cho đến bây giờ, chúng ta đều nắm rõ, để một vương triều tồn tại lâu dài
    cần phải có sự gắn kết trong bộ máy hành chính: cai trị từ trung ương đến
    địa phương. Vào thế kỷ X, Khúc Hạo đã nghĩ đến điều đó. Một chiến thắng
    ngoài mặt trận không thể giúp đất nước vững bền, nhưng một hệ thống
    hành chính kiện toàn có thể làm được điều đó.
    Khúc Hạo chia cả nước thành đơn vị hành chính các cấp: lộ, phủ, châu,
    giáp, xã. Thời thuộc Đường, dưới châu là hương, Khúc Hạo đổi hương là
    giáp. Mỗi giáp có một quản giáp và một phó tri giáp để trông nom việc thu
    thuế. Theo sách An Nam chí nguyên, Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp cả thảy
    bao gồm trước đó, tổng cộng trên cả nước ta có 314 giáp. Dưới giáp là xã,
    mỗi xã có xã quan, một chánh lệnh trưởng và một tá lệnh trưởng. Dưới xã
    là quận, tổng cộng, trình tự bộ máy thời họ Khúc tự chủ do ông cải cách là:
    lộ - phủ - châu - giáp - xã - quận.
    Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Nam có một cuộc cải cách sâu
    rộng đến như thế. Chính những cải cách gần dân và ở cấp cơ sở này sẽ là
    tiền đề để 30 năm sau, Ngô Quyền chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc một cách
    đường đường chính chính.
    Cần phải nhấn mạnh: Ở bộ máy cải cách do Khúc Hạo đặt ra có một
    điểm đặc biệt quan trọng để sau này không chỉ giúp nước ta giành được độc

    https://thuviensach.vn

    lập, đứng lên chống lại sự xâm lược qua từng thời kỳ mà còn củng cố văn
    hóa nghìn năm của dân tộc này, đó là “văn hóa lũy tre làng”. Làng xã Việt
    Nam phía sau lũy tre đã quay tròn lại cùng nhau, kể cho nhau thuở Hồng
    Bàng, Văn Lang, Âu Lạc, đã nhắc nhở nhau và giữ gìn truyền thống ăn
    trầu, nhuộm răng, để 1000 năm mất nước vẫn không quên đi nguồn gốc đất
    tổ. Khi Khúc Hạo Cơ cấu phân khu xã làng và quận, ông đã gián tiếp thu
    gom lực lượng, chính thức hóa một nét Việt và bảo vệ mãi mãi truyền
    thống ấy.
    Cải cách thứ hai của Khúc Hạo là kinh tế. Khúc Hạo chấm dứt tình trạng
    tô thuế, lao dịch và cống nạp nặng nề mà người Việt phải chịu đựng trong
    quá trình Bắc thuộc trước đó. Ông cho ban hành chính sách “bình quân
    thuế ruộng”, có nghĩa là phân phối ruộng đất theo chế độ công xã, và tiến
    hành đánh thuế bình quân theo ruộng đất mà các hộ được phân chia. Điều
    này giúp nông dân đẩy mạnh sản xuất và an tâm cày cấy.
    Ngoài ra, Khúc Hạo còn sửa đổi lại chế độ điền tô, tha bỏ lực dịch, lập sổ
    hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng (quản giáp) trông coi. Sách
    Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã viết về các chính sách cải
    cách của Khúc Hạo bằng 11 chữ sau: “Cốt khoan dung giản dị, nhân dân
    đều được yên vui.”
    Mặc dù hoàn cảnh dân tộc khi ấy khiến cho những cải cách của Khúc
    Hạo chưa được toàn diện và triệt để nhưng tính từ khi lập nước, cải cách
    của Khúc Hạo đã đưa dân tộc ta tiến một bước dài đến tự chủ và độc lập.
    Một ngôi nhà chỉ yên ấm khi nền móng chắc chắn, một con người chỉ thành
    công khi cái gốc vững vàng. Câu chuyện từ dòng họ Khúc lặng lẽ xây dựng
    vun đắp nước Việt để tạo nên chiến thắng cho dân tộc sau đó hơn 30 năm
    chính là bài học lịch sử vĩ đại mà tiền nhân đã dạy chúng ta.
    Năm 917, Khúc Hạo mất. Con trai ông là Khúc Thừa Mỹ lên thay. Khúc
    Thừa Mỹ không có được tính nhẫn nại của cha và ông, đã vội vàng gây sự
    với quân Nam Hán. Kết quả, gây ra cuộc chiến tranh vào năm 930. Quân
    Nam Hán tiến quân thần tốc, đánh bại quân Việt, Khúc Thừa Mỹ bị bắt,

    https://thuviensach.vn

    phủ thành Đại La (Hà Nội) bị chiếm. May sao một vị ái tướng nhà họ Khúc
    tên là Dương Đình Nghệ đã đem quân vây lấy quân Nam Hán, chém chết
    hai tướng, rồi giành quyền tự chủ về lại cho nước Việt, ông là vị tiết độ sứ
    kế thừa dòng họ Khúc. Nhưng Dương Đình Nghệ chỉ ở cương vị tiết độ sứ
    được 7 năm thì bị nha tướng Kiều Công Tiễn giết hại. Con rể của ông là
    Ngô Quyền (cưới con gái của Dương Đình Nghệ là Dương Như Ngọc) đã
    đưa bộ thuộc từ Thanh Hóa đến bảo vệ Đại La, giao chiến trên sông Bạch
    Đằng. Phần còn lại, hẳn chúng ta đều đã biết.
    Dẫu chỉ tồn tại đúng 25 năm nhưng dòng họ Khúc đã đặt nền móng tự
    chủ cho dân tộc Việt Nam một cách vững vàng, từ chiến thắng ngoài trận
    tiền cho đến việc kiến quốc, dựng nước, tạo nền tảng hành chính - kinh tế
    mà các triều Ngô, Đinh và Tiền Lê đã kế thừa.
    Sử gia Lê Tung nhà Hậu Lê thế kỷ XVI đánh giá công lao của Khúc
    Hạo: “Khúc Trung Chúa (tức Khúc Hạo) nối nghiệp mở nước, khoan hòa,
    có phong thái trù mưu định kể quyết thắng, ngoài ý mọi người, chống chọi
    các nước Bắc triều, thật là bậc chúa hiền của nước Việt.”
    Những trang sử vẻ vang của dân tộc rồi đây sẽ lần lượt được kể lại với
    những chiến thắng và những công tích kỳ vĩ. Nhưng hậu nhân không bao
    giờ quên có một dòng họ Khúc thầm lặng đã xây nên một nền móng vững
    vàng, cho khúc ca tự chủ ngân lên vào năm 938 sau này.

    https://thuviensach.vn

    KHÚC CA 2:

    HÙNG CA TỰ CHỦ

    NGÔ QUYỀN - NGƯỜI ANH HÙNG
    CHẤM DỨT 1000 NĂM BẮC THUỘC
    Người ta gọi ngài là vị “vua đứng đầu các vua”, Phan Bội Châu thì
    gọi ngài là “vị Tổ trung hưng của Việt Nam”. Những mỹ từ ấy dành
    cho ngài không hề quá lời. Bởi vì ngài là Ngô Quyền.

    1. Ngô Quyền lên ngôi
    Nhà vua sinh năm 897, là con trai của Châu Mục Đường Lâm Ngô Mân.
    Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Khi Ngô Quyền vừa mới sinh có ánh sáng lạ
    đầy nhà, trang mạo khác thường, có ba nốt ruồi ở lưng, thầy tướng cho là
    lạ, bảo có thể làm chủ một phương, nên mới đặt tên là Quyền. Ngô Quyền
    lớn lên, khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí
    dũng, sức có thể nâng được vạc.” Ở khúc ca đầu tiên, chúng ta đã nghe về
    Khúc Hạo. Dưới trướng Khúc Hạo, tại Ái Châu (Thanh Hóa) có một vị
    tướng tên là Dương Đình Nghệ, một người rất trung thành và yêu nước.
    Khi Lý Khắc Chính - tướng nhà Nam Hán - đánh bại họ Khúc và bắt Khúc
    Thừa Mỹ, Dương Đình Nghệ đã chiêu mộ về quanh mình hơn 3000 giả tử
    (con nuôi, cũng có thể hiểu là gia khách), triệu tập hào kiệt khắp nơi để báo
    thù cho chủ. Ông có ba nha tướng quan trọng, mà cả ba người sau này đều
    có vai trò trong lịch sử Việt Nam. Một anh hùng, một kẻ phản bội và một
    người cha có một người con anh hùng. Đầu tiên là Ngô Quyền, hai là Kiều
    Công Tiễn và ba là Đinh Công Trứ (cha của Đinh Bộ Lĩnh). Trong đó Ngô

    https://thuviensach.vn

    Quyền là được người được ưu ái nhất, không chỉ là con nuôi, nha tướng mà
    còn là con rể của ông. Năm 931, Dương Đình Nghệ đem quân ra Đại La
    vây thứ sử Giao Châu là Lý Tiến, để Ngô Quyền ở lại giữ Ái Châu thay
    mình. Vua Nam Hán sai Trần Bảo đem quân sang cứu, nhưng đến nơi thì
    Dương Đình Nghệ đã hạ được thành, còn Lý Tiến trốn về nước. Lúc Trần
    Bảo vây thành, Dương Đình Nghệ đem quân ra đánh, giết chết Trần Bảo.
    Chiến thắng đã giúp ông lấy lại vị trí tiết độ sứ, cai quản Giao Châu cho
    người Việt, tiếp tục nền tự chủ mà dòng họ Khúc để lại.
    Độc lập kéo dài được khoảng 7 năm thì đến một ngày mùa xuân của năm
    937, ông bị ái tướng của mình là Kiều Công Tiễn phản bội. Kiều Công Tiễn
    giết Dương Đình Nghệ rồi tự xưng là tiết độ sứ. Từ Ái Châu, nhận được tin
    báo, Ngô Quyền tức giận kéo quân ra đánh Kiều Công Tiễn, báo thù cho
    Dương Đình Nghệ. Hành động hèn hạ của Kiều Công Tiễn đã gây ra sự
    phản ứng dữ dội, tất cả các hào trưởng đều đứng dưới ngọn cờ của Ngô
    Quyền, kể cả cháu nội của Kiều Công Tiễn là Kiều Công Hãn (người sau
    này sẽ trở thành một của 12 sứ quân trong “Loạn 12 sứ quân” thời Đinh Bộ
    Lĩnh). Thấy bản thân mình bị cô lập, Kiều Công Tiễn đem vàng bạc qua
    cầu cứu vua Nam Hán. Nhưng Ngô Quyền đã kéo tiên phong ra đến Đại
    La. Dương Tam Kha và Ngô Xương Ngập đánh trận đầu, hạ thành, giết
    Kiều Công Tiễn. Dẹp yên nội loạn xong, Ngô Quyền sắp đặt trận tiền, sẵn
    sàng chống giặc Nam Hán đang chuẩn bị tràn sang bờ cõi.
    Lúc này, ở Nam Hán, sau khi nhận được thư cầu cứu của Kiều Công
    Tiễn, vua Nam Hán là Lưu Cung hỏi ý sùng văn sứ(2) là Tiêu Ích, Tiêu Ích
    trả lời: “Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô
    Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên
    thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến.”
    Vua Nam Hán không nghe, sai con là Lưu Hoằng Tháo đem chiến thuyền
    theo sông Bạch Đằng mà vào. Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến,
    bảo các tướng tá rằng: “Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa
    đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người
    làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân

    https://thuviensach.vn

    mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không
    phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc
    lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng
    theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không
    cho chiếc nào ra thoát.” (Theo Đại Việt sử ký toàn thư).
    Trí - dũng của Ngô Quyền không chỉ được thể hiện qua những câu nói
    trên, hay qua lời khen của đối thủ mà qua cả cách ngài đã chiến thắng ở
    lòng sông huyền thoại đó. Việc khảo sát và nghĩ ra kể cắm cọc nhọn trên
    sông, lợi dụng khi thủy triều lên che khuất cọc và thủy triều rút để hãm địch
    vào trận, nhằm phá tan chiến thuyền ở Bạch Đằng rồi đây sẽ trở thành bí
    kíp bảo vệ dân tộc suốt 1000 năm trước họa phương Bắc.

    2. Trận Bạch Đằng
    Hầu hết trong mỗi chúng ta đều thuộc và nhớ diễn biến của trận chiến ở
    sông Bạch Đằng. Đấy là khi Ngô Quyền cho đóng cọc ở hai bên cửa biển.
    Đợi nước triều lên, nhà vua sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến và giả
    thua chạy để dụ quân Nam Hán đuổi theo. Hoằng Tháo quả nhiên tiến quân
    vào. Khi binh thuyền đã vào trong vùng cắm cọc, nước triều rút, cọc nhô
    lên, Ngô Quyền bèn đưa quân ra đánh, liều chết chiến đấu đẩy quân Nam
    Hán lui về phía hàng Cọc. Đúng lúc ấy thì nước triều rút xuống rất gấp,
    khiến thuyền địch mắc vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết
    đuối quá nửa. Ngô Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Tháo giết
    đi.
    Nhưng đây là Bạch Đằng giang, là địa danh đã trở thành dấu mốc tự hào
    và vinh quang của dân tộc. Bởi thế nếu chỉ nhắc về chiến công lẫy lừng ấy
    bằng những dòng đơn giản như vậy thì liệu có thể khiến hậu nhân nhớ về
    Bạch Đằng để khâm phục tài trí của cha ông? Bởi dòng sông này, chiến tích
    này quá vĩ đại nên ta cần đào sâu, đọc kỹ, truy xét tỉ mỉ. Ngô Quyền đã
    đóng cọc ở sống như thế nào? Ngô Quyền đã làm gì để có thể dụ được giặc
    vào đúng thời điểm thủy triều lên và rút đi như thế?

    https://thuviensach.vn

    2.1. Tính khoa học
    Sông Bạch Đằng là một con sông chảy giữa thị xã Quảng Yên (Quảng
    Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục
    khoảng 40 km, thuộc hệ thống sông Thái Bình. Đây là con đường thủy tốt
    nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa) từ miền Nam Trung Quốc.
    Đó là lý do vì sao sông Bạch Đằng luôn là địa điểm của các trận giao tranh.
    Khoảng 500 - 700 năm trước, nơi đây là một bộ phận của châu thổ sông
    Hồng. Vì thế lòng chính sông không bị xâm thực, hình phễu, sâu rộng như
    bây giờ mà nông hơn và hẹp hơn. Mô tả của Nguyễn Trãi trong Dư địa chí
    như sau: “Sông Vân Cừ rộng hai dặm sáu mươi chín trượng, sâu năm
    thước.” Vì vậy việc tồn tại một trận địa cọc chính cắm ngang qua dòng chủ
    lưu sông Bạch Đằng vào giai đoạn 500 - 700 năm trước là phù hợp với thủy
    văn, địa chất lúc đó.
    Tính khoa học trong việc cắm cọc trên sông Bạch Đằng vào những năm
    938 thực tế là trùng khớp với nguyên lý xây dựng của thời hiện đại, đó là
    hệ thống móng cọc và móng cừ tràm ở các công trình xây dựng bây giờ.
    Tất cả các loại cọc đóng từ thô sơ đến hiện đại đều dựa trên một nguyên lý
    khoa học căn bản là lực ma sát. Nếu chỉ đóng một Cọc thì khi có lực lớn từ
    trên tác động xuống, nó sẽ dễ bị tụt xuống dưới sình. Nhưng với số lượng
    cọc chi chít dính sát vào nhau, nhờ lực ma sát, chúng sẽ kết dính cứng lại
    với cát và bùn đất xung quanh, kể cả sình lầy đi chăng nữa, và qua đó tạo
    thành một khối cứng dưới lòng đất. Trí tuệ của ông cha chính là phát hiện
    ra lực ma sát đó.

    2.2. Phương pháp đóng cọc trên sông
    Vào năm 2008, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Hải Phòng đã tổ chức hội
    thảo “Tìm hiểu kỹ thuật cắm cọc gỗ trên sông Bạch Đằng chống giặc ngoại
    xâm”. Các nhà nghiên cứu khoa học đã cùng nhau tìm hiểu phương pháp
    đóng cọc trên lòng sông. Theo đó, kỹ thuật cắm cọc trên lòng sông Bạch
    Đằng đã sử dụng kinh nghiệm cắm cọc đáy của dân chài ngày xưa: “Dây

    https://thuviensach.vn

    giữ cọc, cọc giữ dây, dây giữ phương tiện (thuyền).” Nghĩa là vấn đề cắm
    cọc sâu hay nông, cọc to hay nhỏ không quan trọng bằng sự chắc chắn của
    cọc nháng và dây nháng (có vai trò đối với cọc gỗ như những chiếc neo đối
    với tàu thuyền, bè mảng). Thời điểm đóng cọc là đợi lúc thủy triều rút
    xuống, mực nước ở mức thấp nhất.
    Kỹ thuật cắm cọc như sau: Cọc lớn được thả xuống sông, đầu gốc được
    nhấn chìm một phần xuống mặt bùn, phần ngọn buộc một sợi dây để giữ và
    điều chỉnh cọc. Thân cọc được dựng theo phương thẳng đứng với mặt
    nước, dây nháng tiền và hậu buộc ở thân trên giữ cho cọc không bị nghiêng
    ngả. Cũng tại phần trên này có que nháng buộc ngang cọc để đỡ một hoặc
    hai người đứng lên nhún nhảy và lắc ngang thân cọc, nhấn cọc chìm sâu
    dần. Khi cọc không xuyên xuống được nữa thì tháo đoạn tre ra, buộc lên
    cao hơn và buộc thêm một đoạn tre nữa để không chỉ hai mà bốn người
    cùng lắc theo nhịp. Bao giờ cọc chìm dưới mặt nước triều một mức nào đó
    theo tính toán của các bô lão thì dừng lại.
    Nếu ở những luồng nước sâu, khi cọc sắp chìm xuống mặt nước thì tiến
    hành đặt nối vào một đoạn cọc khác bằng cách ốp bốn nửa đoạn cây tre dài
    cỡ cái đòn gánh, lấy dây mây buộc thắt lại để cho người trèo lên lắc tiếp.
    Đến khi cọc đứng chắc chân trong nền đất dưới đáy sông mới cởi dây mây
    ra, tháo đoạn cọc gá tạm đi, lắp nón sắt vào cọc. Chính nón sắt ấy sau này
    sẽ có tác dụng đâm thẳng vào ván gỗ của thuyền địch. Khi cọc cắm xuống
    độ sâu ổn định, tiến hành vừa kéo lên và vừa lắc ngang, đẩy thân cọc xiên
    45 độ về phía hướng rút của thủy triều.
    Những đoàn thuyền của phương Bắc rồi đây sẽ nhận lấy những đoạn
    xiên của những chiếc cọc này. Vỡ tan cả đoàn, vỡ tan luôn giấc mộng xâm
    lược nước Việt.

    2.3. Nghệ thuật chiến thắng
    Điều khiến Ngô Quyền trở thành một danh tướng lẫy lừng chính là việc
    tính toán được khả năng lên xuống của thủy triều và dụ được địch đến nơi

    https://thuviensach.vn

    cắm cọc đã chuẩn bị sẵn, nói cách khác là nghệ thuật tập trung lực lượng và
    lựa chọn địa điểm quyết chiến. Để làm được như thế thì phải “trên thông
    thiên văn, dưới tường địa lý”. Ngô Quyền sở hữu một mạng lưới tình báo
    đủ tốt để ngăn cản được những thông tin tuồn ra bên ngoài về việc cắm cọc
    nhọn trên sông, và đủ lớn để có thể biết được thời gian mà quân Nam Hán
    đổ bộ vào Bạch Đằng. Đến khi giao chiến, Ngô Quyền phải tính toán thời
    gian sao cho khớp để có thể dẫn dụ quân Nam Hán đến cửa sông khi thủy
    triều còn dâng cao che đi những chiếc cọc nhọn và tính toán sao cho đúng
    thời điểm thủy triều chuẩn bị rút.
    Vào thời điểm mà thủy triều chuẩn bị rút đi cũng là l
     
    Gửi ý kiến

    Danh ngôn về sách

    “Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    Nhúng mã HTML

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG, XÃ THANH MIỆN, TP HẢI PHÒNG !