THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG GIỚI THIỆU SÁCH CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 26/3
Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường Tiểu học Tứ Cường- Xã Thanh Miện- Thành phố Hải Phòng
Sử Việt 12 khúc tráng ca

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 11h:38' 08-01-2026
Dung lượng: 954.3 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 11h:38' 08-01-2026
Dung lượng: 954.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Thực hiện ebook: BSapien.
Cuốn sách này dành tặng mẹ tôi
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Một dân tộc chỉ có thể bước đến tương lai trên đôi chân vững vàng của
lịch sử. Bởi lịch sử là bài học tiền nhân để lại cho hậu thế, là kho tàng kiến
thức phát triển tương lai, tránh những sai lầm của quá khứ.
Đối với tôi, lịch sử là những câu chuyện, không phải là những thống kê
khô khan. Quan điểm của tôi về lịch sử khá đặc biệt. Tôi định nghĩa lịch sử
là bài học của tiền nhân. Vì thế lịch sử phải là những câu chuyện để dẫn dắt
lớp trẻ đến với tình yêu và sự đam mê khám phá.
Dựa trên những tài liệu sử học đã có và được công nhận, cuốn sách vì thế
sẽ kể lại những câu chuyện lịch sử qua góc nhìn mới mẻ hơn.
Nói theo cách nhìn lãng mạn, tôi giống như gã thanh niên đi góp nhặt các
câu chuyện cũ ngàn năm sương khói thành các nốt nhạc mà viết lên 12
khúc ca, tổng hòa thành một bản hùng ca lịch sử, để bạn yêu quê hương
hơn, yêu dân tộc hơn và nhìn vào các bậc tiền nhân mà xây dựng bản lĩnh
Việt hôm nay.
Cuốn sách này không phải là dã sử, những chi tiết được kể lại trong cuốn
sách lấy từ chính sử. Nhưng cuốn sách với rất nhiều câu chuyện về những
anh hùng dựng nước và giữ nước như Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lê
Thánh Tông... sẽ được kể lại với sự mềm mại nhất, hùng tráng nhất. Có lẽ
bởi thế mà xin được đứng vào khoảng giữa vậy, vừa đủ tư liệu chính sử để
bạn hiểu và nhớ về sử nước nhà vừa đủ ly kỳ để đưa hồn xưa thẩm đượm
vào từng câu chuyện, ngõ hầu mang bạn đến gần tình yêu sử Việt hơn mà
yêu dân tộc ta hơn.
Vì cuốn sách còn nhiều hạn chế, lại không có điều kiện để gặp từng tác
giả đi trước, hòng nói lời cảm ơn chân thành, rồi nhờ thế mà được quý vị
https://thuviensach.vn
bổ sung kho sử liệu còn khiếm khuyết của bản thân nên tôi vô cùng cảm
kích nếu nhận được sự góp ý chí tình của quý vị gần xa.
Dũng Phan
(TP. Hồ Chí Minh, mùa xuân, 2017)
https://thuviensach.vn
KHÚC CA 1:
TIẾNG NHẠC DẠO ĐẦU
DÒNG HỌ KHÚC, ĐẶT NỀN MÓNG
TỰ CHỦ
Đã bao giờ trên những trang sách lịch sử viết về thời kỳ Bắc thuộc,
các bạn tự hỏi: Vì sao chỉ có chiến thắng của Ngô Quyền trên sông
Bạch Đằng là chấm dứt được 1000 năm Bắc thuộc, trong khi các cuộc
khởi nghĩa trước đó của Bà Trưng, Bà Triệu, của Lý Nam Đế, Triệu
Quang Phục, của Phùng Hưng, hay của Mai Thúc Loan chỉ là những
chiến thắng ban đầu gây tiếng vang và rồi nhanh chóng bị dập tắt?
Câu trả lời mấu chốt có liên quan đến một dòng họ quan trọng trong
lịch sử dân tộc: dòng họ Khúc.
Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Kể
từ ngày ấy, quân phương Bắc không còn trở lại và đất nước ta chấm dứt
1000 năm Bắc thuộc. Nhưng tại sao quân phương Bắc không còn trở lại để
đánh Ngô Quyền nữa? Bởi vì họ đã nhìn thấy nước Nam như một quốc gia
riêng biệt khó bề chế ngự. Chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch
Đằng không phải là một cuộc khởi nghĩa đơn thuần như các cuộc khởi
nghĩa trước đó, mà trận đánh này là cuộc chiến giữa hai vùng đất tự chủ:
vùng đất Giao Châu do người nước Nam quản lý và vùng đất Nam Hán của
vua Lưu Nham phương Bắc. Khác với tính chất một cuộc khởi nghĩa vùng
lên bột phát bởi sự cai trị hà khắc của kẻ cầm quyền, tính chất của trận đánh
ở Bạch Đằng là sự ngăn chặn Nam Hán xâm chiếm trở lại An Nam. Những
gì Ngô Quyền có hôm ấy không phải là một sự manh mún, nhỏ lẻ như Bà
Trưng Bà Triệu... ngày nào mà là một chính quyền và quân đội rõ ràng.
https://thuviensach.vn
Chính quyền ấy đã được tạo nên từ cách đó hơn 30 năm, dưới tay của một
vị hào trưởng thuộc đất Hồng Châu, tỉnh Hải Dương: Khúc Thừa Dụ. Ba
đời dòng họ Khúc (Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ) đã xây
dựng một chính quyền của nước Nam riêng biệt với phương Bắc, với một
nền kinh tế tự chủ và một đội quân bảo vệ Giao Châu hoàn toàn của người
Việt.
Bởi vậy điểm mấu chốt cho thắng lợi của Ngô Quyền không phải là
chiến thuật trên sông Bạch Đằng mà ở cái gốc rễ được tạo dựng dưới chân
Ngô Vương trước đó. Bạch Đằng chỉ là chiến trường để phân định thắng
thua, là nơi ghi nhận tài năng quân sự của Ngô Vương, còn phía sau lưng
Ngô Vương thì quyền lực đã được quản lý đến cấp địa phương. Sự khác
biệt quan trọng của một chính quyền “ăn sâu bén rễ” đến cấp thôn làng đã
giúp Ngô Quyền, chứ không phải Hai Bà Trưng hay Lý Nam Đế, mới là
người chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc của dân tộc.
1. Khúc Thừa Dụ
“Thời thể tạo anh hùng”, câu nói ấy chính ứng vào Khúc Thừa Dụ. Cuối
thế kỷ IX, nhà Đường đi vào giai đoạn suy vong. Sự suy yếu đến tận gốc rễ
của một trong những triều đại hùng mạnh nhất Trung Quốc đã tạo điều kiện
cho vương quốc của người Bạch và người Di tên là Nam Chiếu hùng mạnh
lên. Nam Chiếu đã tấn công thẳng vào An Nam, cạnh tranh nhà Đường.
Nhưng sự suy yếu của nhà Đường cùng sự đi xuống của Nam Chiếu theo
thời gian viễn chinh đã dẫn đến một cuộc chiến tương tàn mà cả hai bên
đều thất bại, cuối cùng chỉ có người Việt chiến thắng. Sự rối ren đã đưa
quyền lực đến cho quyền thần Chu Toàn Trung. Lúc này, Chu Toàn Dục là
tiết độ sứ An Nam nhưng sau đó lại được thay bằng tiết độ sứ Độc Cô Tổn.
Độc Cô Tổn lại không được lòng quyền thần Chu Toàn Trung, cuối cùng bị
giết. Đất An Nam không có tiết độ sứ, còn chính quyền đô hộ như rắn mất
đầu.
https://thuviensach.vn
Chính lúc này vị anh hùng của chúng ta là Khúc Thừa Dụ bước chân lên
vũ đài lịch sử. Ông là một hào trưởng thuộc đất Hồng Châu, tỉnh Hải
Dương. Được dân chúng ủng hộ, ông đã cùng với bộ thuộc tiến quân ra
chiếm đóng phủ thành Tống Bình (Hà Nội) và tự xưng là tiết độ sứ. Việt sử
thông giám cương mục (Tiền biên, quyển 5) chép lại: “Họ Khúc là một họ
lớn lâu đời ở Hồng Châu. Khúc Thừa Dụ tính khoan hòa, hay thương
người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời buổi loạn lạc, nhân danh là hào
trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là tiết độ sứ.” Như vậy, Khúc Thừa Dụ đã
thực hiện một màn cướp chính quyền trong âm thầm và đẩy nhà Đường vào
thế sự đã rồi, buộc phải công nhận tước vị của ông. Sự khôn khéo của Khúc
Thừa Dụ nằm ở chỗ, ông không dựng cờ để gây sự chú ý mà âm thầm xây
dựng một chính quyền của người Việt và cho người Việt. Ông đứng trên
danh nghĩa là tiết độ sứ của nhà Đường, là người thuộc bộ máy đô hộ,
nhưng phía sau lại làm công việc của một người giành độc lập. Đấy là
chuyển quyền tự chủ dân tộc sang cho người Việt, một cách khéo léo.
Trí tuệ của Khúc Thừa Dụ còn ở cái cách khiến cho nhà Đường phong
hàm tước đồng bình chương sự cho ông. Rồi dùng chính chức tước ấy, ông
phong cho con là Khúc Hạo chức vụ Tĩnh Hải hành quân tự mã quyền tri
lưu hậu, tức là chức vụ chỉ huy quân đội và sẽ thay thế nắm quyền hành tiết
độ sứ khi cha mất đi. Ông muốn rằng, nếu một ngày mình tạ thế thì quyền
lực vẫn trong tay người Việt.
Ngày 23 tháng 7 năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, người đời sau thương
mến gọi ông là Khúc Tiên chủ, dù cho ông chưa hề xưng đế hay xưng
vương. Con ông - Khúc Hạo - lên nắm quyền chức tiết độ sứ thay cha, và
lúc này, Khúc Hạo chứng minh bản lĩnh của một người kế thừa xứng đáng.
Khúc Hạo là một nhà cải cách lớn ngay từ thế kỷ X, một nhân tài trị quốc
dường như đã bị bỏ quên và cần ghi công lại trong dòng chảy của lịch sử
dân tộc.
2. Khúc Hạo
https://thuviensach.vn
Lúc này, nhà Đường đã mất, Trung Quốc bước vào giai đoạn “Ngũ đại
Thập quốc(1)”. Nhà Hậu Lương một lần nữa muốn quay trở lại thôn tính
nước ta. Vua Hậu Lương là Chu Ôn (tức Chu Toàn Trung) phong cho Lưu
Ẩn chức tiết độ phó sứ Quảng Châu, nhưng lại kiếm thêm Tĩnh Hải quân
tiết độ, An Nam đô hộ, như một cách gián tiếp cho phép Lưu Ẩn được
quyền quay lại An Nam nắm quyền. Đứng trước tình thế nguy hiểm ấy,
Khúc Hạo mềm mỏng xưng tôi với vua Hậu Lương, đưa vàng bạc qua
thương thuyết. Ông đối ngoại khôn khéo và giữ yên được bờ cõi, tránh
được một cuộc can qua. Cùng với đó là đường hướng đối nội, Khúc Hạo
tiến hành cải cách ở hai mặt hành chính và kinh tế để giúp nước Việt vững
mạnh, nhằm đương đầu khi có chiến tranh, xác lập tự chủ lâu bền.
Cho đến bây giờ, chúng ta đều nắm rõ, để một vương triều tồn tại lâu dài
cần phải có sự gắn kết trong bộ máy hành chính: cai trị từ trung ương đến
địa phương. Vào thế kỷ X, Khúc Hạo đã nghĩ đến điều đó. Một chiến thắng
ngoài mặt trận không thể giúp đất nước vững bền, nhưng một hệ thống
hành chính kiện toàn có thể làm được điều đó.
Khúc Hạo chia cả nước thành đơn vị hành chính các cấp: lộ, phủ, châu,
giáp, xã. Thời thuộc Đường, dưới châu là hương, Khúc Hạo đổi hương là
giáp. Mỗi giáp có một quản giáp và một phó tri giáp để trông nom việc thu
thuế. Theo sách An Nam chí nguyên, Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp cả thảy
bao gồm trước đó, tổng cộng trên cả nước ta có 314 giáp. Dưới giáp là xã,
mỗi xã có xã quan, một chánh lệnh trưởng và một tá lệnh trưởng. Dưới xã
là quận, tổng cộng, trình tự bộ máy thời họ Khúc tự chủ do ông cải cách là:
lộ - phủ - châu - giáp - xã - quận.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Nam có một cuộc cải cách sâu
rộng đến như thế. Chính những cải cách gần dân và ở cấp cơ sở này sẽ là
tiền đề để 30 năm sau, Ngô Quyền chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc một cách
đường đường chính chính.
Cần phải nhấn mạnh: Ở bộ máy cải cách do Khúc Hạo đặt ra có một
điểm đặc biệt quan trọng để sau này không chỉ giúp nước ta giành được độc
https://thuviensach.vn
lập, đứng lên chống lại sự xâm lược qua từng thời kỳ mà còn củng cố văn
hóa nghìn năm của dân tộc này, đó là “văn hóa lũy tre làng”. Làng xã Việt
Nam phía sau lũy tre đã quay tròn lại cùng nhau, kể cho nhau thuở Hồng
Bàng, Văn Lang, Âu Lạc, đã nhắc nhở nhau và giữ gìn truyền thống ăn
trầu, nhuộm răng, để 1000 năm mất nước vẫn không quên đi nguồn gốc đất
tổ. Khi Khúc Hạo Cơ cấu phân khu xã làng và quận, ông đã gián tiếp thu
gom lực lượng, chính thức hóa một nét Việt và bảo vệ mãi mãi truyền
thống ấy.
Cải cách thứ hai của Khúc Hạo là kinh tế. Khúc Hạo chấm dứt tình trạng
tô thuế, lao dịch và cống nạp nặng nề mà người Việt phải chịu đựng trong
quá trình Bắc thuộc trước đó. Ông cho ban hành chính sách “bình quân
thuế ruộng”, có nghĩa là phân phối ruộng đất theo chế độ công xã, và tiến
hành đánh thuế bình quân theo ruộng đất mà các hộ được phân chia. Điều
này giúp nông dân đẩy mạnh sản xuất và an tâm cày cấy.
Ngoài ra, Khúc Hạo còn sửa đổi lại chế độ điền tô, tha bỏ lực dịch, lập sổ
hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng (quản giáp) trông coi. Sách
Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã viết về các chính sách cải
cách của Khúc Hạo bằng 11 chữ sau: “Cốt khoan dung giản dị, nhân dân
đều được yên vui.”
Mặc dù hoàn cảnh dân tộc khi ấy khiến cho những cải cách của Khúc
Hạo chưa được toàn diện và triệt để nhưng tính từ khi lập nước, cải cách
của Khúc Hạo đã đưa dân tộc ta tiến một bước dài đến tự chủ và độc lập.
Một ngôi nhà chỉ yên ấm khi nền móng chắc chắn, một con người chỉ thành
công khi cái gốc vững vàng. Câu chuyện từ dòng họ Khúc lặng lẽ xây dựng
vun đắp nước Việt để tạo nên chiến thắng cho dân tộc sau đó hơn 30 năm
chính là bài học lịch sử vĩ đại mà tiền nhân đã dạy chúng ta.
Năm 917, Khúc Hạo mất. Con trai ông là Khúc Thừa Mỹ lên thay. Khúc
Thừa Mỹ không có được tính nhẫn nại của cha và ông, đã vội vàng gây sự
với quân Nam Hán. Kết quả, gây ra cuộc chiến tranh vào năm 930. Quân
Nam Hán tiến quân thần tốc, đánh bại quân Việt, Khúc Thừa Mỹ bị bắt,
https://thuviensach.vn
phủ thành Đại La (Hà Nội) bị chiếm. May sao một vị ái tướng nhà họ Khúc
tên là Dương Đình Nghệ đã đem quân vây lấy quân Nam Hán, chém chết
hai tướng, rồi giành quyền tự chủ về lại cho nước Việt, ông là vị tiết độ sứ
kế thừa dòng họ Khúc. Nhưng Dương Đình Nghệ chỉ ở cương vị tiết độ sứ
được 7 năm thì bị nha tướng Kiều Công Tiễn giết hại. Con rể của ông là
Ngô Quyền (cưới con gái của Dương Đình Nghệ là Dương Như Ngọc) đã
đưa bộ thuộc từ Thanh Hóa đến bảo vệ Đại La, giao chiến trên sông Bạch
Đằng. Phần còn lại, hẳn chúng ta đều đã biết.
Dẫu chỉ tồn tại đúng 25 năm nhưng dòng họ Khúc đã đặt nền móng tự
chủ cho dân tộc Việt Nam một cách vững vàng, từ chiến thắng ngoài trận
tiền cho đến việc kiến quốc, dựng nước, tạo nền tảng hành chính - kinh tế
mà các triều Ngô, Đinh và Tiền Lê đã kế thừa.
Sử gia Lê Tung nhà Hậu Lê thế kỷ XVI đánh giá công lao của Khúc
Hạo: “Khúc Trung Chúa (tức Khúc Hạo) nối nghiệp mở nước, khoan hòa,
có phong thái trù mưu định kể quyết thắng, ngoài ý mọi người, chống chọi
các nước Bắc triều, thật là bậc chúa hiền của nước Việt.”
Những trang sử vẻ vang của dân tộc rồi đây sẽ lần lượt được kể lại với
những chiến thắng và những công tích kỳ vĩ. Nhưng hậu nhân không bao
giờ quên có một dòng họ Khúc thầm lặng đã xây nên một nền móng vững
vàng, cho khúc ca tự chủ ngân lên vào năm 938 sau này.
https://thuviensach.vn
KHÚC CA 2:
HÙNG CA TỰ CHỦ
NGÔ QUYỀN - NGƯỜI ANH HÙNG
CHẤM DỨT 1000 NĂM BẮC THUỘC
Người ta gọi ngài là vị “vua đứng đầu các vua”, Phan Bội Châu thì
gọi ngài là “vị Tổ trung hưng của Việt Nam”. Những mỹ từ ấy dành
cho ngài không hề quá lời. Bởi vì ngài là Ngô Quyền.
1. Ngô Quyền lên ngôi
Nhà vua sinh năm 897, là con trai của Châu Mục Đường Lâm Ngô Mân.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Khi Ngô Quyền vừa mới sinh có ánh sáng lạ
đầy nhà, trang mạo khác thường, có ba nốt ruồi ở lưng, thầy tướng cho là
lạ, bảo có thể làm chủ một phương, nên mới đặt tên là Quyền. Ngô Quyền
lớn lên, khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí
dũng, sức có thể nâng được vạc.” Ở khúc ca đầu tiên, chúng ta đã nghe về
Khúc Hạo. Dưới trướng Khúc Hạo, tại Ái Châu (Thanh Hóa) có một vị
tướng tên là Dương Đình Nghệ, một người rất trung thành và yêu nước.
Khi Lý Khắc Chính - tướng nhà Nam Hán - đánh bại họ Khúc và bắt Khúc
Thừa Mỹ, Dương Đình Nghệ đã chiêu mộ về quanh mình hơn 3000 giả tử
(con nuôi, cũng có thể hiểu là gia khách), triệu tập hào kiệt khắp nơi để báo
thù cho chủ. Ông có ba nha tướng quan trọng, mà cả ba người sau này đều
có vai trò trong lịch sử Việt Nam. Một anh hùng, một kẻ phản bội và một
người cha có một người con anh hùng. Đầu tiên là Ngô Quyền, hai là Kiều
Công Tiễn và ba là Đinh Công Trứ (cha của Đinh Bộ Lĩnh). Trong đó Ngô
https://thuviensach.vn
Quyền là được người được ưu ái nhất, không chỉ là con nuôi, nha tướng mà
còn là con rể của ông. Năm 931, Dương Đình Nghệ đem quân ra Đại La
vây thứ sử Giao Châu là Lý Tiến, để Ngô Quyền ở lại giữ Ái Châu thay
mình. Vua Nam Hán sai Trần Bảo đem quân sang cứu, nhưng đến nơi thì
Dương Đình Nghệ đã hạ được thành, còn Lý Tiến trốn về nước. Lúc Trần
Bảo vây thành, Dương Đình Nghệ đem quân ra đánh, giết chết Trần Bảo.
Chiến thắng đã giúp ông lấy lại vị trí tiết độ sứ, cai quản Giao Châu cho
người Việt, tiếp tục nền tự chủ mà dòng họ Khúc để lại.
Độc lập kéo dài được khoảng 7 năm thì đến một ngày mùa xuân của năm
937, ông bị ái tướng của mình là Kiều Công Tiễn phản bội. Kiều Công Tiễn
giết Dương Đình Nghệ rồi tự xưng là tiết độ sứ. Từ Ái Châu, nhận được tin
báo, Ngô Quyền tức giận kéo quân ra đánh Kiều Công Tiễn, báo thù cho
Dương Đình Nghệ. Hành động hèn hạ của Kiều Công Tiễn đã gây ra sự
phản ứng dữ dội, tất cả các hào trưởng đều đứng dưới ngọn cờ của Ngô
Quyền, kể cả cháu nội của Kiều Công Tiễn là Kiều Công Hãn (người sau
này sẽ trở thành một của 12 sứ quân trong “Loạn 12 sứ quân” thời Đinh Bộ
Lĩnh). Thấy bản thân mình bị cô lập, Kiều Công Tiễn đem vàng bạc qua
cầu cứu vua Nam Hán. Nhưng Ngô Quyền đã kéo tiên phong ra đến Đại
La. Dương Tam Kha và Ngô Xương Ngập đánh trận đầu, hạ thành, giết
Kiều Công Tiễn. Dẹp yên nội loạn xong, Ngô Quyền sắp đặt trận tiền, sẵn
sàng chống giặc Nam Hán đang chuẩn bị tràn sang bờ cõi.
Lúc này, ở Nam Hán, sau khi nhận được thư cầu cứu của Kiều Công
Tiễn, vua Nam Hán là Lưu Cung hỏi ý sùng văn sứ(2) là Tiêu Ích, Tiêu Ích
trả lời: “Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô
Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên
thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến.”
Vua Nam Hán không nghe, sai con là Lưu Hoằng Tháo đem chiến thuyền
theo sông Bạch Đằng mà vào. Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến,
bảo các tướng tá rằng: “Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa
đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người
làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân
https://thuviensach.vn
mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không
phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc
lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng
theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không
cho chiếc nào ra thoát.” (Theo Đại Việt sử ký toàn thư).
Trí - dũng của Ngô Quyền không chỉ được thể hiện qua những câu nói
trên, hay qua lời khen của đối thủ mà qua cả cách ngài đã chiến thắng ở
lòng sông huyền thoại đó. Việc khảo sát và nghĩ ra kể cắm cọc nhọn trên
sông, lợi dụng khi thủy triều lên che khuất cọc và thủy triều rút để hãm địch
vào trận, nhằm phá tan chiến thuyền ở Bạch Đằng rồi đây sẽ trở thành bí
kíp bảo vệ dân tộc suốt 1000 năm trước họa phương Bắc.
2. Trận Bạch Đằng
Hầu hết trong mỗi chúng ta đều thuộc và nhớ diễn biến của trận chiến ở
sông Bạch Đằng. Đấy là khi Ngô Quyền cho đóng cọc ở hai bên cửa biển.
Đợi nước triều lên, nhà vua sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến và giả
thua chạy để dụ quân Nam Hán đuổi theo. Hoằng Tháo quả nhiên tiến quân
vào. Khi binh thuyền đã vào trong vùng cắm cọc, nước triều rút, cọc nhô
lên, Ngô Quyền bèn đưa quân ra đánh, liều chết chiến đấu đẩy quân Nam
Hán lui về phía hàng Cọc. Đúng lúc ấy thì nước triều rút xuống rất gấp,
khiến thuyền địch mắc vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết
đuối quá nửa. Ngô Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Tháo giết
đi.
Nhưng đây là Bạch Đằng giang, là địa danh đã trở thành dấu mốc tự hào
và vinh quang của dân tộc. Bởi thế nếu chỉ nhắc về chiến công lẫy lừng ấy
bằng những dòng đơn giản như vậy thì liệu có thể khiến hậu nhân nhớ về
Bạch Đằng để khâm phục tài trí của cha ông? Bởi dòng sông này, chiến tích
này quá vĩ đại nên ta cần đào sâu, đọc kỹ, truy xét tỉ mỉ. Ngô Quyền đã
đóng cọc ở sống như thế nào? Ngô Quyền đã làm gì để có thể dụ được giặc
vào đúng thời điểm thủy triều lên và rút đi như thế?
https://thuviensach.vn
2.1. Tính khoa học
Sông Bạch Đằng là một con sông chảy giữa thị xã Quảng Yên (Quảng
Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục
khoảng 40 km, thuộc hệ thống sông Thái Bình. Đây là con đường thủy tốt
nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa) từ miền Nam Trung Quốc.
Đó là lý do vì sao sông Bạch Đằng luôn là địa điểm của các trận giao tranh.
Khoảng 500 - 700 năm trước, nơi đây là một bộ phận của châu thổ sông
Hồng. Vì thế lòng chính sông không bị xâm thực, hình phễu, sâu rộng như
bây giờ mà nông hơn và hẹp hơn. Mô tả của Nguyễn Trãi trong Dư địa chí
như sau: “Sông Vân Cừ rộng hai dặm sáu mươi chín trượng, sâu năm
thước.” Vì vậy việc tồn tại một trận địa cọc chính cắm ngang qua dòng chủ
lưu sông Bạch Đằng vào giai đoạn 500 - 700 năm trước là phù hợp với thủy
văn, địa chất lúc đó.
Tính khoa học trong việc cắm cọc trên sông Bạch Đằng vào những năm
938 thực tế là trùng khớp với nguyên lý xây dựng của thời hiện đại, đó là
hệ thống móng cọc và móng cừ tràm ở các công trình xây dựng bây giờ.
Tất cả các loại cọc đóng từ thô sơ đến hiện đại đều dựa trên một nguyên lý
khoa học căn bản là lực ma sát. Nếu chỉ đóng một Cọc thì khi có lực lớn từ
trên tác động xuống, nó sẽ dễ bị tụt xuống dưới sình. Nhưng với số lượng
cọc chi chít dính sát vào nhau, nhờ lực ma sát, chúng sẽ kết dính cứng lại
với cát và bùn đất xung quanh, kể cả sình lầy đi chăng nữa, và qua đó tạo
thành một khối cứng dưới lòng đất. Trí tuệ của ông cha chính là phát hiện
ra lực ma sát đó.
2.2. Phương pháp đóng cọc trên sông
Vào năm 2008, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Hải Phòng đã tổ chức hội
thảo “Tìm hiểu kỹ thuật cắm cọc gỗ trên sông Bạch Đằng chống giặc ngoại
xâm”. Các nhà nghiên cứu khoa học đã cùng nhau tìm hiểu phương pháp
đóng cọc trên lòng sông. Theo đó, kỹ thuật cắm cọc trên lòng sông Bạch
Đằng đã sử dụng kinh nghiệm cắm cọc đáy của dân chài ngày xưa: “Dây
https://thuviensach.vn
giữ cọc, cọc giữ dây, dây giữ phương tiện (thuyền).” Nghĩa là vấn đề cắm
cọc sâu hay nông, cọc to hay nhỏ không quan trọng bằng sự chắc chắn của
cọc nháng và dây nháng (có vai trò đối với cọc gỗ như những chiếc neo đối
với tàu thuyền, bè mảng). Thời điểm đóng cọc là đợi lúc thủy triều rút
xuống, mực nước ở mức thấp nhất.
Kỹ thuật cắm cọc như sau: Cọc lớn được thả xuống sông, đầu gốc được
nhấn chìm một phần xuống mặt bùn, phần ngọn buộc một sợi dây để giữ và
điều chỉnh cọc. Thân cọc được dựng theo phương thẳng đứng với mặt
nước, dây nháng tiền và hậu buộc ở thân trên giữ cho cọc không bị nghiêng
ngả. Cũng tại phần trên này có que nháng buộc ngang cọc để đỡ một hoặc
hai người đứng lên nhún nhảy và lắc ngang thân cọc, nhấn cọc chìm sâu
dần. Khi cọc không xuyên xuống được nữa thì tháo đoạn tre ra, buộc lên
cao hơn và buộc thêm một đoạn tre nữa để không chỉ hai mà bốn người
cùng lắc theo nhịp. Bao giờ cọc chìm dưới mặt nước triều một mức nào đó
theo tính toán của các bô lão thì dừng lại.
Nếu ở những luồng nước sâu, khi cọc sắp chìm xuống mặt nước thì tiến
hành đặt nối vào một đoạn cọc khác bằng cách ốp bốn nửa đoạn cây tre dài
cỡ cái đòn gánh, lấy dây mây buộc thắt lại để cho người trèo lên lắc tiếp.
Đến khi cọc đứng chắc chân trong nền đất dưới đáy sông mới cởi dây mây
ra, tháo đoạn cọc gá tạm đi, lắp nón sắt vào cọc. Chính nón sắt ấy sau này
sẽ có tác dụng đâm thẳng vào ván gỗ của thuyền địch. Khi cọc cắm xuống
độ sâu ổn định, tiến hành vừa kéo lên và vừa lắc ngang, đẩy thân cọc xiên
45 độ về phía hướng rút của thủy triều.
Những đoàn thuyền của phương Bắc rồi đây sẽ nhận lấy những đoạn
xiên của những chiếc cọc này. Vỡ tan cả đoàn, vỡ tan luôn giấc mộng xâm
lược nước Việt.
2.3. Nghệ thuật chiến thắng
Điều khiến Ngô Quyền trở thành một danh tướng lẫy lừng chính là việc
tính toán được khả năng lên xuống của thủy triều và dụ được địch đến nơi
https://thuviensach.vn
cắm cọc đã chuẩn bị sẵn, nói cách khác là nghệ thuật tập trung lực lượng và
lựa chọn địa điểm quyết chiến. Để làm được như thế thì phải “trên thông
thiên văn, dưới tường địa lý”. Ngô Quyền sở hữu một mạng lưới tình báo
đủ tốt để ngăn cản được những thông tin tuồn ra bên ngoài về việc cắm cọc
nhọn trên sông, và đủ lớn để có thể biết được thời gian mà quân Nam Hán
đổ bộ vào Bạch Đằng. Đến khi giao chiến, Ngô Quyền phải tính toán thời
gian sao cho khớp để có thể dẫn dụ quân Nam Hán đến cửa sông khi thủy
triều còn dâng cao che đi những chiếc cọc nhọn và tính toán sao cho đúng
thời điểm thủy triều chuẩn bị rút.
Vào thời điểm mà thủy triều chuẩn bị rút đi cũng là l
Thực hiện ebook: BSapien.
Cuốn sách này dành tặng mẹ tôi
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Một dân tộc chỉ có thể bước đến tương lai trên đôi chân vững vàng của
lịch sử. Bởi lịch sử là bài học tiền nhân để lại cho hậu thế, là kho tàng kiến
thức phát triển tương lai, tránh những sai lầm của quá khứ.
Đối với tôi, lịch sử là những câu chuyện, không phải là những thống kê
khô khan. Quan điểm của tôi về lịch sử khá đặc biệt. Tôi định nghĩa lịch sử
là bài học của tiền nhân. Vì thế lịch sử phải là những câu chuyện để dẫn dắt
lớp trẻ đến với tình yêu và sự đam mê khám phá.
Dựa trên những tài liệu sử học đã có và được công nhận, cuốn sách vì thế
sẽ kể lại những câu chuyện lịch sử qua góc nhìn mới mẻ hơn.
Nói theo cách nhìn lãng mạn, tôi giống như gã thanh niên đi góp nhặt các
câu chuyện cũ ngàn năm sương khói thành các nốt nhạc mà viết lên 12
khúc ca, tổng hòa thành một bản hùng ca lịch sử, để bạn yêu quê hương
hơn, yêu dân tộc hơn và nhìn vào các bậc tiền nhân mà xây dựng bản lĩnh
Việt hôm nay.
Cuốn sách này không phải là dã sử, những chi tiết được kể lại trong cuốn
sách lấy từ chính sử. Nhưng cuốn sách với rất nhiều câu chuyện về những
anh hùng dựng nước và giữ nước như Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lê
Thánh Tông... sẽ được kể lại với sự mềm mại nhất, hùng tráng nhất. Có lẽ
bởi thế mà xin được đứng vào khoảng giữa vậy, vừa đủ tư liệu chính sử để
bạn hiểu và nhớ về sử nước nhà vừa đủ ly kỳ để đưa hồn xưa thẩm đượm
vào từng câu chuyện, ngõ hầu mang bạn đến gần tình yêu sử Việt hơn mà
yêu dân tộc ta hơn.
Vì cuốn sách còn nhiều hạn chế, lại không có điều kiện để gặp từng tác
giả đi trước, hòng nói lời cảm ơn chân thành, rồi nhờ thế mà được quý vị
https://thuviensach.vn
bổ sung kho sử liệu còn khiếm khuyết của bản thân nên tôi vô cùng cảm
kích nếu nhận được sự góp ý chí tình của quý vị gần xa.
Dũng Phan
(TP. Hồ Chí Minh, mùa xuân, 2017)
https://thuviensach.vn
KHÚC CA 1:
TIẾNG NHẠC DẠO ĐẦU
DÒNG HỌ KHÚC, ĐẶT NỀN MÓNG
TỰ CHỦ
Đã bao giờ trên những trang sách lịch sử viết về thời kỳ Bắc thuộc,
các bạn tự hỏi: Vì sao chỉ có chiến thắng của Ngô Quyền trên sông
Bạch Đằng là chấm dứt được 1000 năm Bắc thuộc, trong khi các cuộc
khởi nghĩa trước đó của Bà Trưng, Bà Triệu, của Lý Nam Đế, Triệu
Quang Phục, của Phùng Hưng, hay của Mai Thúc Loan chỉ là những
chiến thắng ban đầu gây tiếng vang và rồi nhanh chóng bị dập tắt?
Câu trả lời mấu chốt có liên quan đến một dòng họ quan trọng trong
lịch sử dân tộc: dòng họ Khúc.
Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Kể
từ ngày ấy, quân phương Bắc không còn trở lại và đất nước ta chấm dứt
1000 năm Bắc thuộc. Nhưng tại sao quân phương Bắc không còn trở lại để
đánh Ngô Quyền nữa? Bởi vì họ đã nhìn thấy nước Nam như một quốc gia
riêng biệt khó bề chế ngự. Chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch
Đằng không phải là một cuộc khởi nghĩa đơn thuần như các cuộc khởi
nghĩa trước đó, mà trận đánh này là cuộc chiến giữa hai vùng đất tự chủ:
vùng đất Giao Châu do người nước Nam quản lý và vùng đất Nam Hán của
vua Lưu Nham phương Bắc. Khác với tính chất một cuộc khởi nghĩa vùng
lên bột phát bởi sự cai trị hà khắc của kẻ cầm quyền, tính chất của trận đánh
ở Bạch Đằng là sự ngăn chặn Nam Hán xâm chiếm trở lại An Nam. Những
gì Ngô Quyền có hôm ấy không phải là một sự manh mún, nhỏ lẻ như Bà
Trưng Bà Triệu... ngày nào mà là một chính quyền và quân đội rõ ràng.
https://thuviensach.vn
Chính quyền ấy đã được tạo nên từ cách đó hơn 30 năm, dưới tay của một
vị hào trưởng thuộc đất Hồng Châu, tỉnh Hải Dương: Khúc Thừa Dụ. Ba
đời dòng họ Khúc (Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ) đã xây
dựng một chính quyền của nước Nam riêng biệt với phương Bắc, với một
nền kinh tế tự chủ và một đội quân bảo vệ Giao Châu hoàn toàn của người
Việt.
Bởi vậy điểm mấu chốt cho thắng lợi của Ngô Quyền không phải là
chiến thuật trên sông Bạch Đằng mà ở cái gốc rễ được tạo dựng dưới chân
Ngô Vương trước đó. Bạch Đằng chỉ là chiến trường để phân định thắng
thua, là nơi ghi nhận tài năng quân sự của Ngô Vương, còn phía sau lưng
Ngô Vương thì quyền lực đã được quản lý đến cấp địa phương. Sự khác
biệt quan trọng của một chính quyền “ăn sâu bén rễ” đến cấp thôn làng đã
giúp Ngô Quyền, chứ không phải Hai Bà Trưng hay Lý Nam Đế, mới là
người chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc của dân tộc.
1. Khúc Thừa Dụ
“Thời thể tạo anh hùng”, câu nói ấy chính ứng vào Khúc Thừa Dụ. Cuối
thế kỷ IX, nhà Đường đi vào giai đoạn suy vong. Sự suy yếu đến tận gốc rễ
của một trong những triều đại hùng mạnh nhất Trung Quốc đã tạo điều kiện
cho vương quốc của người Bạch và người Di tên là Nam Chiếu hùng mạnh
lên. Nam Chiếu đã tấn công thẳng vào An Nam, cạnh tranh nhà Đường.
Nhưng sự suy yếu của nhà Đường cùng sự đi xuống của Nam Chiếu theo
thời gian viễn chinh đã dẫn đến một cuộc chiến tương tàn mà cả hai bên
đều thất bại, cuối cùng chỉ có người Việt chiến thắng. Sự rối ren đã đưa
quyền lực đến cho quyền thần Chu Toàn Trung. Lúc này, Chu Toàn Dục là
tiết độ sứ An Nam nhưng sau đó lại được thay bằng tiết độ sứ Độc Cô Tổn.
Độc Cô Tổn lại không được lòng quyền thần Chu Toàn Trung, cuối cùng bị
giết. Đất An Nam không có tiết độ sứ, còn chính quyền đô hộ như rắn mất
đầu.
https://thuviensach.vn
Chính lúc này vị anh hùng của chúng ta là Khúc Thừa Dụ bước chân lên
vũ đài lịch sử. Ông là một hào trưởng thuộc đất Hồng Châu, tỉnh Hải
Dương. Được dân chúng ủng hộ, ông đã cùng với bộ thuộc tiến quân ra
chiếm đóng phủ thành Tống Bình (Hà Nội) và tự xưng là tiết độ sứ. Việt sử
thông giám cương mục (Tiền biên, quyển 5) chép lại: “Họ Khúc là một họ
lớn lâu đời ở Hồng Châu. Khúc Thừa Dụ tính khoan hòa, hay thương
người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời buổi loạn lạc, nhân danh là hào
trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là tiết độ sứ.” Như vậy, Khúc Thừa Dụ đã
thực hiện một màn cướp chính quyền trong âm thầm và đẩy nhà Đường vào
thế sự đã rồi, buộc phải công nhận tước vị của ông. Sự khôn khéo của Khúc
Thừa Dụ nằm ở chỗ, ông không dựng cờ để gây sự chú ý mà âm thầm xây
dựng một chính quyền của người Việt và cho người Việt. Ông đứng trên
danh nghĩa là tiết độ sứ của nhà Đường, là người thuộc bộ máy đô hộ,
nhưng phía sau lại làm công việc của một người giành độc lập. Đấy là
chuyển quyền tự chủ dân tộc sang cho người Việt, một cách khéo léo.
Trí tuệ của Khúc Thừa Dụ còn ở cái cách khiến cho nhà Đường phong
hàm tước đồng bình chương sự cho ông. Rồi dùng chính chức tước ấy, ông
phong cho con là Khúc Hạo chức vụ Tĩnh Hải hành quân tự mã quyền tri
lưu hậu, tức là chức vụ chỉ huy quân đội và sẽ thay thế nắm quyền hành tiết
độ sứ khi cha mất đi. Ông muốn rằng, nếu một ngày mình tạ thế thì quyền
lực vẫn trong tay người Việt.
Ngày 23 tháng 7 năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, người đời sau thương
mến gọi ông là Khúc Tiên chủ, dù cho ông chưa hề xưng đế hay xưng
vương. Con ông - Khúc Hạo - lên nắm quyền chức tiết độ sứ thay cha, và
lúc này, Khúc Hạo chứng minh bản lĩnh của một người kế thừa xứng đáng.
Khúc Hạo là một nhà cải cách lớn ngay từ thế kỷ X, một nhân tài trị quốc
dường như đã bị bỏ quên và cần ghi công lại trong dòng chảy của lịch sử
dân tộc.
2. Khúc Hạo
https://thuviensach.vn
Lúc này, nhà Đường đã mất, Trung Quốc bước vào giai đoạn “Ngũ đại
Thập quốc(1)”. Nhà Hậu Lương một lần nữa muốn quay trở lại thôn tính
nước ta. Vua Hậu Lương là Chu Ôn (tức Chu Toàn Trung) phong cho Lưu
Ẩn chức tiết độ phó sứ Quảng Châu, nhưng lại kiếm thêm Tĩnh Hải quân
tiết độ, An Nam đô hộ, như một cách gián tiếp cho phép Lưu Ẩn được
quyền quay lại An Nam nắm quyền. Đứng trước tình thế nguy hiểm ấy,
Khúc Hạo mềm mỏng xưng tôi với vua Hậu Lương, đưa vàng bạc qua
thương thuyết. Ông đối ngoại khôn khéo và giữ yên được bờ cõi, tránh
được một cuộc can qua. Cùng với đó là đường hướng đối nội, Khúc Hạo
tiến hành cải cách ở hai mặt hành chính và kinh tế để giúp nước Việt vững
mạnh, nhằm đương đầu khi có chiến tranh, xác lập tự chủ lâu bền.
Cho đến bây giờ, chúng ta đều nắm rõ, để một vương triều tồn tại lâu dài
cần phải có sự gắn kết trong bộ máy hành chính: cai trị từ trung ương đến
địa phương. Vào thế kỷ X, Khúc Hạo đã nghĩ đến điều đó. Một chiến thắng
ngoài mặt trận không thể giúp đất nước vững bền, nhưng một hệ thống
hành chính kiện toàn có thể làm được điều đó.
Khúc Hạo chia cả nước thành đơn vị hành chính các cấp: lộ, phủ, châu,
giáp, xã. Thời thuộc Đường, dưới châu là hương, Khúc Hạo đổi hương là
giáp. Mỗi giáp có một quản giáp và một phó tri giáp để trông nom việc thu
thuế. Theo sách An Nam chí nguyên, Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp cả thảy
bao gồm trước đó, tổng cộng trên cả nước ta có 314 giáp. Dưới giáp là xã,
mỗi xã có xã quan, một chánh lệnh trưởng và một tá lệnh trưởng. Dưới xã
là quận, tổng cộng, trình tự bộ máy thời họ Khúc tự chủ do ông cải cách là:
lộ - phủ - châu - giáp - xã - quận.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Nam có một cuộc cải cách sâu
rộng đến như thế. Chính những cải cách gần dân và ở cấp cơ sở này sẽ là
tiền đề để 30 năm sau, Ngô Quyền chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc một cách
đường đường chính chính.
Cần phải nhấn mạnh: Ở bộ máy cải cách do Khúc Hạo đặt ra có một
điểm đặc biệt quan trọng để sau này không chỉ giúp nước ta giành được độc
https://thuviensach.vn
lập, đứng lên chống lại sự xâm lược qua từng thời kỳ mà còn củng cố văn
hóa nghìn năm của dân tộc này, đó là “văn hóa lũy tre làng”. Làng xã Việt
Nam phía sau lũy tre đã quay tròn lại cùng nhau, kể cho nhau thuở Hồng
Bàng, Văn Lang, Âu Lạc, đã nhắc nhở nhau và giữ gìn truyền thống ăn
trầu, nhuộm răng, để 1000 năm mất nước vẫn không quên đi nguồn gốc đất
tổ. Khi Khúc Hạo Cơ cấu phân khu xã làng và quận, ông đã gián tiếp thu
gom lực lượng, chính thức hóa một nét Việt và bảo vệ mãi mãi truyền
thống ấy.
Cải cách thứ hai của Khúc Hạo là kinh tế. Khúc Hạo chấm dứt tình trạng
tô thuế, lao dịch và cống nạp nặng nề mà người Việt phải chịu đựng trong
quá trình Bắc thuộc trước đó. Ông cho ban hành chính sách “bình quân
thuế ruộng”, có nghĩa là phân phối ruộng đất theo chế độ công xã, và tiến
hành đánh thuế bình quân theo ruộng đất mà các hộ được phân chia. Điều
này giúp nông dân đẩy mạnh sản xuất và an tâm cày cấy.
Ngoài ra, Khúc Hạo còn sửa đổi lại chế độ điền tô, tha bỏ lực dịch, lập sổ
hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng (quản giáp) trông coi. Sách
Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã viết về các chính sách cải
cách của Khúc Hạo bằng 11 chữ sau: “Cốt khoan dung giản dị, nhân dân
đều được yên vui.”
Mặc dù hoàn cảnh dân tộc khi ấy khiến cho những cải cách của Khúc
Hạo chưa được toàn diện và triệt để nhưng tính từ khi lập nước, cải cách
của Khúc Hạo đã đưa dân tộc ta tiến một bước dài đến tự chủ và độc lập.
Một ngôi nhà chỉ yên ấm khi nền móng chắc chắn, một con người chỉ thành
công khi cái gốc vững vàng. Câu chuyện từ dòng họ Khúc lặng lẽ xây dựng
vun đắp nước Việt để tạo nên chiến thắng cho dân tộc sau đó hơn 30 năm
chính là bài học lịch sử vĩ đại mà tiền nhân đã dạy chúng ta.
Năm 917, Khúc Hạo mất. Con trai ông là Khúc Thừa Mỹ lên thay. Khúc
Thừa Mỹ không có được tính nhẫn nại của cha và ông, đã vội vàng gây sự
với quân Nam Hán. Kết quả, gây ra cuộc chiến tranh vào năm 930. Quân
Nam Hán tiến quân thần tốc, đánh bại quân Việt, Khúc Thừa Mỹ bị bắt,
https://thuviensach.vn
phủ thành Đại La (Hà Nội) bị chiếm. May sao một vị ái tướng nhà họ Khúc
tên là Dương Đình Nghệ đã đem quân vây lấy quân Nam Hán, chém chết
hai tướng, rồi giành quyền tự chủ về lại cho nước Việt, ông là vị tiết độ sứ
kế thừa dòng họ Khúc. Nhưng Dương Đình Nghệ chỉ ở cương vị tiết độ sứ
được 7 năm thì bị nha tướng Kiều Công Tiễn giết hại. Con rể của ông là
Ngô Quyền (cưới con gái của Dương Đình Nghệ là Dương Như Ngọc) đã
đưa bộ thuộc từ Thanh Hóa đến bảo vệ Đại La, giao chiến trên sông Bạch
Đằng. Phần còn lại, hẳn chúng ta đều đã biết.
Dẫu chỉ tồn tại đúng 25 năm nhưng dòng họ Khúc đã đặt nền móng tự
chủ cho dân tộc Việt Nam một cách vững vàng, từ chiến thắng ngoài trận
tiền cho đến việc kiến quốc, dựng nước, tạo nền tảng hành chính - kinh tế
mà các triều Ngô, Đinh và Tiền Lê đã kế thừa.
Sử gia Lê Tung nhà Hậu Lê thế kỷ XVI đánh giá công lao của Khúc
Hạo: “Khúc Trung Chúa (tức Khúc Hạo) nối nghiệp mở nước, khoan hòa,
có phong thái trù mưu định kể quyết thắng, ngoài ý mọi người, chống chọi
các nước Bắc triều, thật là bậc chúa hiền của nước Việt.”
Những trang sử vẻ vang của dân tộc rồi đây sẽ lần lượt được kể lại với
những chiến thắng và những công tích kỳ vĩ. Nhưng hậu nhân không bao
giờ quên có một dòng họ Khúc thầm lặng đã xây nên một nền móng vững
vàng, cho khúc ca tự chủ ngân lên vào năm 938 sau này.
https://thuviensach.vn
KHÚC CA 2:
HÙNG CA TỰ CHỦ
NGÔ QUYỀN - NGƯỜI ANH HÙNG
CHẤM DỨT 1000 NĂM BẮC THUỘC
Người ta gọi ngài là vị “vua đứng đầu các vua”, Phan Bội Châu thì
gọi ngài là “vị Tổ trung hưng của Việt Nam”. Những mỹ từ ấy dành
cho ngài không hề quá lời. Bởi vì ngài là Ngô Quyền.
1. Ngô Quyền lên ngôi
Nhà vua sinh năm 897, là con trai của Châu Mục Đường Lâm Ngô Mân.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Khi Ngô Quyền vừa mới sinh có ánh sáng lạ
đầy nhà, trang mạo khác thường, có ba nốt ruồi ở lưng, thầy tướng cho là
lạ, bảo có thể làm chủ một phương, nên mới đặt tên là Quyền. Ngô Quyền
lớn lên, khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí
dũng, sức có thể nâng được vạc.” Ở khúc ca đầu tiên, chúng ta đã nghe về
Khúc Hạo. Dưới trướng Khúc Hạo, tại Ái Châu (Thanh Hóa) có một vị
tướng tên là Dương Đình Nghệ, một người rất trung thành và yêu nước.
Khi Lý Khắc Chính - tướng nhà Nam Hán - đánh bại họ Khúc và bắt Khúc
Thừa Mỹ, Dương Đình Nghệ đã chiêu mộ về quanh mình hơn 3000 giả tử
(con nuôi, cũng có thể hiểu là gia khách), triệu tập hào kiệt khắp nơi để báo
thù cho chủ. Ông có ba nha tướng quan trọng, mà cả ba người sau này đều
có vai trò trong lịch sử Việt Nam. Một anh hùng, một kẻ phản bội và một
người cha có một người con anh hùng. Đầu tiên là Ngô Quyền, hai là Kiều
Công Tiễn và ba là Đinh Công Trứ (cha của Đinh Bộ Lĩnh). Trong đó Ngô
https://thuviensach.vn
Quyền là được người được ưu ái nhất, không chỉ là con nuôi, nha tướng mà
còn là con rể của ông. Năm 931, Dương Đình Nghệ đem quân ra Đại La
vây thứ sử Giao Châu là Lý Tiến, để Ngô Quyền ở lại giữ Ái Châu thay
mình. Vua Nam Hán sai Trần Bảo đem quân sang cứu, nhưng đến nơi thì
Dương Đình Nghệ đã hạ được thành, còn Lý Tiến trốn về nước. Lúc Trần
Bảo vây thành, Dương Đình Nghệ đem quân ra đánh, giết chết Trần Bảo.
Chiến thắng đã giúp ông lấy lại vị trí tiết độ sứ, cai quản Giao Châu cho
người Việt, tiếp tục nền tự chủ mà dòng họ Khúc để lại.
Độc lập kéo dài được khoảng 7 năm thì đến một ngày mùa xuân của năm
937, ông bị ái tướng của mình là Kiều Công Tiễn phản bội. Kiều Công Tiễn
giết Dương Đình Nghệ rồi tự xưng là tiết độ sứ. Từ Ái Châu, nhận được tin
báo, Ngô Quyền tức giận kéo quân ra đánh Kiều Công Tiễn, báo thù cho
Dương Đình Nghệ. Hành động hèn hạ của Kiều Công Tiễn đã gây ra sự
phản ứng dữ dội, tất cả các hào trưởng đều đứng dưới ngọn cờ của Ngô
Quyền, kể cả cháu nội của Kiều Công Tiễn là Kiều Công Hãn (người sau
này sẽ trở thành một của 12 sứ quân trong “Loạn 12 sứ quân” thời Đinh Bộ
Lĩnh). Thấy bản thân mình bị cô lập, Kiều Công Tiễn đem vàng bạc qua
cầu cứu vua Nam Hán. Nhưng Ngô Quyền đã kéo tiên phong ra đến Đại
La. Dương Tam Kha và Ngô Xương Ngập đánh trận đầu, hạ thành, giết
Kiều Công Tiễn. Dẹp yên nội loạn xong, Ngô Quyền sắp đặt trận tiền, sẵn
sàng chống giặc Nam Hán đang chuẩn bị tràn sang bờ cõi.
Lúc này, ở Nam Hán, sau khi nhận được thư cầu cứu của Kiều Công
Tiễn, vua Nam Hán là Lưu Cung hỏi ý sùng văn sứ(2) là Tiêu Ích, Tiêu Ích
trả lời: “Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô
Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên
thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến.”
Vua Nam Hán không nghe, sai con là Lưu Hoằng Tháo đem chiến thuyền
theo sông Bạch Đằng mà vào. Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến,
bảo các tướng tá rằng: “Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa
đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người
làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân
https://thuviensach.vn
mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không
phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc
lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng
theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không
cho chiếc nào ra thoát.” (Theo Đại Việt sử ký toàn thư).
Trí - dũng của Ngô Quyền không chỉ được thể hiện qua những câu nói
trên, hay qua lời khen của đối thủ mà qua cả cách ngài đã chiến thắng ở
lòng sông huyền thoại đó. Việc khảo sát và nghĩ ra kể cắm cọc nhọn trên
sông, lợi dụng khi thủy triều lên che khuất cọc và thủy triều rút để hãm địch
vào trận, nhằm phá tan chiến thuyền ở Bạch Đằng rồi đây sẽ trở thành bí
kíp bảo vệ dân tộc suốt 1000 năm trước họa phương Bắc.
2. Trận Bạch Đằng
Hầu hết trong mỗi chúng ta đều thuộc và nhớ diễn biến của trận chiến ở
sông Bạch Đằng. Đấy là khi Ngô Quyền cho đóng cọc ở hai bên cửa biển.
Đợi nước triều lên, nhà vua sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến và giả
thua chạy để dụ quân Nam Hán đuổi theo. Hoằng Tháo quả nhiên tiến quân
vào. Khi binh thuyền đã vào trong vùng cắm cọc, nước triều rút, cọc nhô
lên, Ngô Quyền bèn đưa quân ra đánh, liều chết chiến đấu đẩy quân Nam
Hán lui về phía hàng Cọc. Đúng lúc ấy thì nước triều rút xuống rất gấp,
khiến thuyền địch mắc vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết
đuối quá nửa. Ngô Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Tháo giết
đi.
Nhưng đây là Bạch Đằng giang, là địa danh đã trở thành dấu mốc tự hào
và vinh quang của dân tộc. Bởi thế nếu chỉ nhắc về chiến công lẫy lừng ấy
bằng những dòng đơn giản như vậy thì liệu có thể khiến hậu nhân nhớ về
Bạch Đằng để khâm phục tài trí của cha ông? Bởi dòng sông này, chiến tích
này quá vĩ đại nên ta cần đào sâu, đọc kỹ, truy xét tỉ mỉ. Ngô Quyền đã
đóng cọc ở sống như thế nào? Ngô Quyền đã làm gì để có thể dụ được giặc
vào đúng thời điểm thủy triều lên và rút đi như thế?
https://thuviensach.vn
2.1. Tính khoa học
Sông Bạch Đằng là một con sông chảy giữa thị xã Quảng Yên (Quảng
Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục
khoảng 40 km, thuộc hệ thống sông Thái Bình. Đây là con đường thủy tốt
nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa) từ miền Nam Trung Quốc.
Đó là lý do vì sao sông Bạch Đằng luôn là địa điểm của các trận giao tranh.
Khoảng 500 - 700 năm trước, nơi đây là một bộ phận của châu thổ sông
Hồng. Vì thế lòng chính sông không bị xâm thực, hình phễu, sâu rộng như
bây giờ mà nông hơn và hẹp hơn. Mô tả của Nguyễn Trãi trong Dư địa chí
như sau: “Sông Vân Cừ rộng hai dặm sáu mươi chín trượng, sâu năm
thước.” Vì vậy việc tồn tại một trận địa cọc chính cắm ngang qua dòng chủ
lưu sông Bạch Đằng vào giai đoạn 500 - 700 năm trước là phù hợp với thủy
văn, địa chất lúc đó.
Tính khoa học trong việc cắm cọc trên sông Bạch Đằng vào những năm
938 thực tế là trùng khớp với nguyên lý xây dựng của thời hiện đại, đó là
hệ thống móng cọc và móng cừ tràm ở các công trình xây dựng bây giờ.
Tất cả các loại cọc đóng từ thô sơ đến hiện đại đều dựa trên một nguyên lý
khoa học căn bản là lực ma sát. Nếu chỉ đóng một Cọc thì khi có lực lớn từ
trên tác động xuống, nó sẽ dễ bị tụt xuống dưới sình. Nhưng với số lượng
cọc chi chít dính sát vào nhau, nhờ lực ma sát, chúng sẽ kết dính cứng lại
với cát và bùn đất xung quanh, kể cả sình lầy đi chăng nữa, và qua đó tạo
thành một khối cứng dưới lòng đất. Trí tuệ của ông cha chính là phát hiện
ra lực ma sát đó.
2.2. Phương pháp đóng cọc trên sông
Vào năm 2008, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Hải Phòng đã tổ chức hội
thảo “Tìm hiểu kỹ thuật cắm cọc gỗ trên sông Bạch Đằng chống giặc ngoại
xâm”. Các nhà nghiên cứu khoa học đã cùng nhau tìm hiểu phương pháp
đóng cọc trên lòng sông. Theo đó, kỹ thuật cắm cọc trên lòng sông Bạch
Đằng đã sử dụng kinh nghiệm cắm cọc đáy của dân chài ngày xưa: “Dây
https://thuviensach.vn
giữ cọc, cọc giữ dây, dây giữ phương tiện (thuyền).” Nghĩa là vấn đề cắm
cọc sâu hay nông, cọc to hay nhỏ không quan trọng bằng sự chắc chắn của
cọc nháng và dây nháng (có vai trò đối với cọc gỗ như những chiếc neo đối
với tàu thuyền, bè mảng). Thời điểm đóng cọc là đợi lúc thủy triều rút
xuống, mực nước ở mức thấp nhất.
Kỹ thuật cắm cọc như sau: Cọc lớn được thả xuống sông, đầu gốc được
nhấn chìm một phần xuống mặt bùn, phần ngọn buộc một sợi dây để giữ và
điều chỉnh cọc. Thân cọc được dựng theo phương thẳng đứng với mặt
nước, dây nháng tiền và hậu buộc ở thân trên giữ cho cọc không bị nghiêng
ngả. Cũng tại phần trên này có que nháng buộc ngang cọc để đỡ một hoặc
hai người đứng lên nhún nhảy và lắc ngang thân cọc, nhấn cọc chìm sâu
dần. Khi cọc không xuyên xuống được nữa thì tháo đoạn tre ra, buộc lên
cao hơn và buộc thêm một đoạn tre nữa để không chỉ hai mà bốn người
cùng lắc theo nhịp. Bao giờ cọc chìm dưới mặt nước triều một mức nào đó
theo tính toán của các bô lão thì dừng lại.
Nếu ở những luồng nước sâu, khi cọc sắp chìm xuống mặt nước thì tiến
hành đặt nối vào một đoạn cọc khác bằng cách ốp bốn nửa đoạn cây tre dài
cỡ cái đòn gánh, lấy dây mây buộc thắt lại để cho người trèo lên lắc tiếp.
Đến khi cọc đứng chắc chân trong nền đất dưới đáy sông mới cởi dây mây
ra, tháo đoạn cọc gá tạm đi, lắp nón sắt vào cọc. Chính nón sắt ấy sau này
sẽ có tác dụng đâm thẳng vào ván gỗ của thuyền địch. Khi cọc cắm xuống
độ sâu ổn định, tiến hành vừa kéo lên và vừa lắc ngang, đẩy thân cọc xiên
45 độ về phía hướng rút của thủy triều.
Những đoàn thuyền của phương Bắc rồi đây sẽ nhận lấy những đoạn
xiên của những chiếc cọc này. Vỡ tan cả đoàn, vỡ tan luôn giấc mộng xâm
lược nước Việt.
2.3. Nghệ thuật chiến thắng
Điều khiến Ngô Quyền trở thành một danh tướng lẫy lừng chính là việc
tính toán được khả năng lên xuống của thủy triều và dụ được địch đến nơi
https://thuviensach.vn
cắm cọc đã chuẩn bị sẵn, nói cách khác là nghệ thuật tập trung lực lượng và
lựa chọn địa điểm quyết chiến. Để làm được như thế thì phải “trên thông
thiên văn, dưới tường địa lý”. Ngô Quyền sở hữu một mạng lưới tình báo
đủ tốt để ngăn cản được những thông tin tuồn ra bên ngoài về việc cắm cọc
nhọn trên sông, và đủ lớn để có thể biết được thời gian mà quân Nam Hán
đổ bộ vào Bạch Đằng. Đến khi giao chiến, Ngô Quyền phải tính toán thời
gian sao cho khớp để có thể dẫn dụ quân Nam Hán đến cửa sông khi thủy
triều còn dâng cao che đi những chiếc cọc nhọn và tính toán sao cho đúng
thời điểm thủy triều chuẩn bị rút.
Vào thời điểm mà thủy triều chuẩn bị rút đi cũng là l
 





