Tài nguyên THƯ VIỆN

GÓC LỊCH SỬ- tự hào việt nam

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bản tin thư viện

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    486535576_687504323842812_4192407978136768961_n.jpg 486500788_687500893843155_8917663302820642951_n.jpg 486401439_687500637176514_6347543047210448692_n.jpg 486294196_687501327176445_6249731343958734534_n.jpg 486256531_687505017176076_4698278582158444056_n.jpg 486146484_687504613842783_7808117533976263193_n.jpg 486140471_687504337176144_5997173459261202020_n.jpg 486128752_687501447176433_2153146775747211441_n.jpg 486117905_687501973843047_5705350894154693155_n.jpg 486108360_687500860509825_7055729163068952091_n.jpg 486100845_687500907176487_7489795251974386868_n.jpg 486035662_687502307176347_2028289640818027344_n.jpg 486024179_687504430509468_37485015750359318_n.jpg 486011789_687502430509668_5915568254882798963_n.jpg 485931918_687500883843156_1958291412881915226_n.jpg 485926560_687504983842746_1036604437140465450_n.jpg 485926242_687504607176117_474982271559330172_n.jpg 485901515_687501970509714_3422404357053098050_n.jpg 485897349_687502257176352_7447090423107471980_n.jpg 485879015_687504650509446_564184650854094885_n.jpg

    sách nói

    Tủ sách kỹ năng sống

    Góc an toàn giao thông

    Please come in

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG - XÃ THANH MIỆN - TP HẢI PHÒNG

    THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG GIỚI THIỆU SÁCH CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 26/3

    Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường Tiểu học Tứ Cường- Xã Thanh Miện- Thành phố Hải Phòng

    Ký ức không quên

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vương Thị Thu Hà
    Ngày gửi: 11h:34' 08-01-2026
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    KÝ ỨC KHÔNG QUÊN
    Cái nhìn của một nhà báo Mỹ về những cuộc ném bom ở Việt Nam
    Tác giả: Jonathan Schell
    Thể loại: Hồi kí
    NXB Dân Trí
    Ebook: Cuibap
    Text: Waka.vn
    Ngày cập nhật: 24/07/2017

    https://thuviensach.vn

    Trích Dẫn
    “Trong cuốn sách này, tôi không chủ yếu viết về những người lính
    trong quân đội Mỹ. Tôi viết về một phần giới hạn của cuộc chiến, viết về sự
    huỷ diệt do quân đội Mỹ gây ra như tôi đã tận mắt nhìn thấy ở miền Nam
    Việt Nam. Tất cả người Mỹ chúng ta đều phải chịu trách nhiệm về cuộc
    chiến tranh này, chứ không phải chỉ các binh sĩ cầm súng.”
    - Jonathan Schell
    “Khi về Mỹ, tôi sẽ tự co mình lại và không hề hé răng. Mọi sự việc ở
    đây tàn bạo quá mức nên sẽ chẳng có ai tin lời tôi nói đâu. Và tôi cũng
    không muốn chết vì bực bội nếu phải cố tìm mọi cách làm cho họ tin những
    điều tôi nói.”
    - Sproul, một binh nhì quê ở Texas

    https://thuviensach.vn

    Lời Tác Giả(*)
    (*) Lời giới thiệu về tác giả viết trong lần xuất bản tại Mỹ, năm 1968.
    Cuốn sách này viết về những gì đang xảy ra ở miền Nam Việt Nam –
    đối với con người và đất đai ở đó – do sự hiện diện của quân đội Mỹ gây
    ra.

    Tôi sẽ không bàn về những khía cạnh đạo lý của sự có mặt ấy. Đơn
    giản tôi chỉ nêu lên những điều tai nghe mắt thấy trong những tuần lễ tôi đi
    cùng các đơn vị Mỹ ở miền Nam Việt Nam vào mùa hè năm 1967. Những
    điều tôi nghe và thấy – phần lớn liên quan đến sự huỷ diệt đang diễn ra ở
    miền Nam Việt Nam – đã giúp tôi phát hiện ra đặc điểm kỳ lạ của cuộc
    chiến tranh này. Theo thời gian, tôi hiểu ra đó chính là cách đối phó của
    quân đội Mỹ trước những thực tế đặc thù hết sức đa dạng của cuộc chiến:
    sự chênh lệch rất xa về quy mô và sức mạnh giữa hai đối thủ; thực tế là
    người Mỹ đang đánh nhau ở một nơi cách xa nước mình hàng chục nghìn
    dặm; thực tế là người Việt Nam là một dân tộc châu Á và sống ở một đất
    nước chưa công nghiệp hoá; thực tế là người Mỹ đang ném bom miền Bắc
    Việt Nam còn người Bắc Việt Nam lại không thể ném bom nước Mỹ; thực
    tế là người ta chỉ chống trả việc chúng ta ném bom ở miền Nam bằng vũ
    khí nhỏ; thực tế là binh sĩ Mỹ thường không thể phân biệt giữa thù với bạn
    hoặc dân thường; thực tế là tình trạng kém cỏi và thối nát của chính quyền
    Sài Gòn, là vai trò thứ yếu của Quân đội Nam Việt Nam – những kẻ đang
    nghĩ rằng chúng ta đến đây là để hỗ trợ họ; thực tế là đối phương đang tiến
    hành một cuộc chiến tranh du kích còn chúng ta thì đang tiến hành một
    cuộc chiến tranh cơ giới hoá; và cuối cùng, một thực tế bao trùm và kỳ
    quặc là: bề ngoài thì có vẻ như không cố tình, nhưng kỳ thực chính chúng
    ta đang tàn phá đất nước mà chúng ta cứ nghĩ là đang đến để bảo vệ nó.
    Như nhiều người Mỹ khác, tôi phản đối chính sách của Mỹ ở Việt
    Nam. Khi tôi nói chuyện với những lính Mỹ chiến đấu ở Việt Nam, tôi luôn
    cảm thấy đau buồn về những điều người ta ra lệnh cho họ làm và về những

    https://thuviensach.vn

    điều họ đã làm. Mặt khác, tôi không thể quên được sự thật là những người
    lính ấy cho rằng họ phải thực thi nhiệm vụ, rằng không có sự lựa chọn nào
    khác. Tôi cũng không quên được sự thật là họ đang phải sống trong trạng
    thái căng thẳng khủng khiếp, và cũng giống như mọi chiến binh trong mọi
    cuộc chiến, họ đang cố níu lấy sự sống và cố giữ cho tinh thần được tỉnh
    táo. Nếu như đất nước chúng ta sẩy chân sa vào cuộc chiến vì sai lầm, thì
    đó không phải là sai lầm của họ. Nếu như việc chúng ta tiếp tục leo thang
    chiến tranh là tội lỗi, thì tội lỗi đó chắc chắn không chỉ là của riêng mình
    họ. Nếu như thế thảm hoạ này đến thảm hoạ khác ập đến đầu nhân dân Việt
    Nam, thì những thảm hoạ đó chính là hậu quả tất yếu của cuộc can thiệp
    của chúng ta.
    Đã có hàng chục nghìn lính Mỹ thiệt mạng hoặc bị thương ở Việt
    Nam, có nhiều người trong số đó tin rằng họ đã chiến đấu vì chính nghĩa,
    và một số binh sĩ mà tôi vừa quen biết ở Việt Nam rồi cũng ngã xuống hoặc
    bị thương trong cùng một niềm tin như thế. Một số binh sĩ của chúng ta đã
    bị chiến tranh biến thành những kẻ tàn bạo. Tôi cũng có thể bị biến thành
    như thế nếu như tôi chiến đấu bên cạnh họ, cũng như những người thuộc
    bên này hoặc bên kia chiến tuyến trong mọi cuộc chiến tranh đã từng bị
    biến thành những kẻ tàn bạo. Tuy vậy, một số trong bọn họ đã thực thi
    nhiệm vụ nhưng không khỏi động lòng trắc ẩn đối với thường dân Việt
    Nam và ngay cả đối với kẻ thù trong chiến đấu.
    Trong cuốn sách này, tôi không chủ yếu viết về những người lính
    trong quân đội Mỹ. Tôi viết về một phần giới hạn của cuộc chiến, viết về sự
    huỷ diệt do quân đội Mỹ gây ra như tôi đã tận mắt nhìn thấy (phần lớn từ
    trên máy bay) đối với một khu vực nông thôn của miền Nam Việt Nam. Tất
    cả người Mỹ chúng ta đều phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh này,
    chứ không phải chỉ các binh sĩ cầm súng. Tôi không có ý muốn phê phán
    những cá nhân người Mỹ chiến đấu ở Việt Nam. Tôi chỉ muốn ghi nhận
    những điều tôi chứng kiến, với hy vọng rằng điều đó sẽ giúp tất cả người
    Mỹ hiểu được tốt hơn điều chúng ta đang làm.
    - Jonathan Schell

    https://thuviensach.vn

    Về Tác Giả Jonathan Schell

    Tác giả Jonathan Schell sinh năm 1943, là một giáo sư và cây bút nổi
    tiếng với rất nhiều bài báo đăng trên The Nation, The New Yorker, và
    TomDispatch.
    Schell nhận bằng tốt nghiệp cử nhân danh dự của Đại học Harvard
    năm 1965 và tốt nghiệp khoá tiếng Nhật mở rộng tại Đại học International
    Christian. Ngoài tiếng Anh, ông còn thông thạo tiếng Pháp và tiếng Nhật.
    Ông bắt đầu sự nghiệp của mình trong vai trò phóng viên chính thức của
    tạp chí The New Yorker từ năm 1967 đến năm 1987, và sau đó là Phó tổng
    biên tập của tạp chí này.
    Trong suốt thời gian đó, Jonathan Schell là cây bút chính phụ trách
    mảng Sự kiện và Công luận. Ngoài những bài báo nổi tiếng, ông còn là một
    tác giả lớn trong việc phản ánh các vấn đề thời sự nóng bỏng của thời đại
    với hàng chục quyển sách có giá trị thức tỉnh con người về sự tàn nhẫn và
    phi lý của chiến tranh, đặc biệt là hiểm hoạ hạt nhân. Những nỗ lực to lớn
    đó đã giúp ông nhận giải Văn chương phi tiểu thuyết Lannan (Lannan
    Award for Literary Non- fiction).
    Ngoài việc cầm bút, Jonathan Schell còn tham gia giảng dạy tại các
    trường Đại học Emory, Đại học Princeton, Đại học New York và Đại học
    Wesleyan. Năm 1987, ông là thành viên của Viện Chính trị học và năm
    2002 là thành viên của Trung tâm Báo chí, Chính trị và Chính sách công
    Shorenstein thuộc Trường hành chính John F. Kennedy – Đại học Harvard.
    Năm 2003, ông tham gia dạy khoá học về các vấn đề hạt nhân tại Đại học
    Luật Yale. Từ năm 1988, ông trở thành thành viên Hoà bình Harold Willens
    của Viện Quốc gia và Hoà bình và là thông tín viên giải trừ quân bị của tạp
    chí The Nation.
    Trong những năm gần đây, ông đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp
    viết lách và diễn thuyết về vấn đề hạt nhân. Ông xuất hiện thường xuyên
    trên sóng phát thanh và các chương trình truyền hình, được các thành viên

    https://thuviensach.vn

    quốc hội Mỹ và cả giới báo chí tham vấn. Năm 2002 và 2003, Jonathan
    Schell nổi tiếng là một người chỉ trích dai dẳng kế hoạch Mỹ xâm chiếm
    Iraq. Năm 2005, ông là khách mời danh dự của Trung tâm Nghiên cứu
    Toàn cầu hoá thuộc Đại học Yale.
    Trong suốt sự nghiệp của mình, Schell đã nhận nhiều giải thưởng uy
    tín như: Giải thưởng Văn chương, Giải thưởng Học viện Nghệ thuật văn
    Văn chương Hoa Kỳ (năm 1973), Giải Tiến sĩ Văn chương Nhân đạo và
    Giải thưởng MacArthur Foundation cho các tác phẩm viết về An ninh và
    Hoà bình trong giai đoạn 1989-1990. Năm 2004, ông nhận giải thưởng Giải
    pháp tương lai không hạt nhân như một sự tưởng thưởng cho các nỗ lực
    không mệt mỏi về vấn đề hạt nhân thế giới.

    https://thuviensach.vn

    1
    Vào mùa xuân năm 1967, Bộ Tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ ở miền
    Nam Việt Nam tổ chức một lực lượng mới, gọi là Lực lượng Đặc nhiệm
    Oregon, bằng cách tập hợp Lữ đoàn Bộ binh nhẹ 196, Lữ đoàn 3 của Sư
    đoàn Bộ binh 4 và Lữ đoàn 1 của Sư đoàn Không vận 101. Lực lượng này
    bố trí tại tỉnh Quảng Ngãi, là tỉnh thứ năm ở phía Nam khu phi quân sự dọc
    theo bờ biển.
    Việc thành lập lực lượng đặc nhiệm mới – một lực lượng đặt dưới sự
    chỉ huy của Lực lượng lính thuỷ đánh bộ 3 – là nhằm để tăng cường đối
    phó với chiến sự đang tăng lên dọc khu phi quân sự. Dãy Trường Sơn ở
    đoạn Quảng Ngãi lượn ra gần biển, giữa núi và biển là một dải đất bằng
    phẳng có thể trồng trọt được. Dải đất này dài khoảng tám mươi cây số, chỗ
    rộng nhất là hai mươi lăm, nơi hẹp nhất là mười cây số. Lực lượng đồng
    minh của Mỹ chia vùng đất này – vốn là nơi sinh sống của hơn 80% trong
    tổng số 650.000 dân của tỉnh – thành bốn Khu Trách nhiệm chiến thuật,
    phạm vi xấp xỉ bằng nhau, và mỗi khu được giao cho một lữ đoàn chịu
    trách nhiệm. Tính từ Bắc xuống Nam là các lữ đoàn: Lữ đoàn nhẹ 196, Lữ
    đoàn Lính thuỷ đánh bộ Hàn Quốc (đã đổ bộ lên Quảng Ngãi từ mùa hè
    năm 1966), Lữ đoàn Quân lực Việt Nam Cộng hoà (viết tắt là ARVN và
    người Mỹ quen gọi là Arvin) và Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 4. Còn Lữ đoàn 1
    của Sư đoàn Không vận 101 làm lực lượng dự bị, sẵn sàng cơ động bằng
    máy bay lên thẳng đến bất kỳ nơi nào trong tỉnh để giáng những đòn tấn
    công bất ngờ vào đối phương.
    Nhiệm vụ chính của Lực lượng Đặc nhiệm Oregon là tìm diệt cái gọi
    là các đơn vị chủ lực của Việt Công (cũng gọi là V.C. hoặc Mặt trận Dân
    tộc Giải phóng) và quân đội Bắc Việt Nam đang hoạt động trong tỉnh
    Quảng Ngãi. Tuy nhiên, để tránh việc lặp đi lặp lại những cách hành quân

    https://thuviensach.vn

    theo cùng một kiểu có thể giúp đối phương dự đoán được các cuộc di
    chuyển của mình, các bộ phận của lực lượng Đặc nhiệm Oregon thỉnh
    thoảng cũng hành quân ra ngoài phạm vi Quảng Ngãi, lên đến Quảng Tín
    [*] ở phía Bắc hoặc vào Bình Định ở phía Nam.
    [*] Tỉnh Quảng Tín (thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam ngày nay) gồm 6
    quận 1 thị xã, 89 xã, tỉnh ly đặt tại thị xã Tam Kỳ, thành lập theo sắc lệnh
    162-Nv ngày 31/07/1962 của chính phủ Việt Nam Cộng hoà. (Chú thích của
    người dịch)
    Khu vực hành quân của Lực lượng Đặc nhiệm Oregon là vùng ven
    biển nhiều rừng núi của Nam Việt Nam trải dài từ phía Nam thành phố Huế
    đến tỉnh Bình Định, vùng này từ xưa đã nổi tiếng vì phong cảnh thiên nhiên
    đẹp và con người tuy nghèo nhưng giàu lòng tự hào và mến khách. Dải đất
    này tuy bằng phẳng nhưng lại là đất cát chẳng mấy màu mỡ, không thuận
    lợi cho việc trồng trọt. Vì vậy nên từ xa xưa đã có một bộ phận lớn nông
    dân làm các nghề khác như đánh cá ở biển Đông hoặc khai thác gỗ trên
    rừng. Nhiều người làm nghề thủ công tại nhà; và vùng này đã từng nổi
    tiếng về lụa tơ tằm và nghề dệt chiếu với nguyên liệu là những cây cối mọc
    đầy hai bên bờ các dòng sông.
    Cư dân bản địa các tỉnh nhiều núi rừng này phần lớn là dân vùng nông
    thôn, có giọng nói ngang ngang nặng âm sắc địa phương, người Sài Gòn
    nghe dễ nhận ra đó là người ở các tỉnh. Phần lớn người dân có thân hình
    thấp hơn người ở nơi khác, dáng vẻ chất phác, chắc nịch, cằm vuông, bản
    tính thật thà, dũng cảm. Mãi đến năm 1964, đa số các trường tiểu học trong
    vùng vẫn viết lên tường câu châm ngôn từ ngàn đời của người Việt “Đói
    cho sạch, rách cho thơm”. Có lẽ vì đất đai quá cằn cỗi không giúp cho con
    người làm nên những cơ nghiệp lớn, nên những gia đình khá giả trong vùng
    thường đặc biệt quan tâm cho con cái ăn học đến nơi đến chốn. Trước khi
    Việt Nam bị chia cắt vào năm 1954, trình độ học vấn của phần lớn dân
    chúng ở miền Nam Việt Nam thấp hơn nhiều so với miền Bắc, nhưng sinh
    viên từ các tỉnh rừng núi ven biển này lại có tiếng là xuất sắc tại trường Đại
    học Hà Nội, được xem là trường danh tiếng nhất của cả nước lúc bấy giờ.
    Một số lớn nhà văn nổi tiếng của Việt Nam sinh ra và lớn lên ở vùng đất
    https://thuviensach.vn

    này. Ở sâu trong vùng núi của mấy tỉnh phía Bắc là những bộ tộc thiểu số
    mà người Pháp gọi là người Thượng, sinh sống bằng cách đốt rẫy làm
    nương, trồng tỉa, đến khi đất bạc màu họ lại di chuyển đi nơi khác.
    Theo sử sách ghi lại, nhân dân trong vùng có tiếng là ngang tàng, quật
    khởi. Chính từ hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định mà các Chúa Nguyễn hồi
    thế kỷ 16 đã tiến hành mở mang bờ cõi tiến xa về phương Nam. Khi người
    Pháp bắt đầu cuộc chinh phục Việt Nam vào cuối thế kỷ 19, Quảng Ngãi và
    Bình Định là nơi có phong trào vũ trang chống Pháp mãnh liệt nhất, và
    cũng chính tại các tỉnh này đã nổ ra đầu tiên các cuộc nổi dậy của nông dân
    trong những năm 1930 chống bọn quan lại phục vụ cho thực dân Pháp. Sau
    Thế chiến thứ hai, khi Việt Minh phát động cuộc cách mạng và cuối cùng
    đã đuổi được người Pháp ra khỏi Việt Nam, Quảng Ngãi trở thành trung
    tâm chính của hoạt động cách mạng và quân Pháp chưa bao giờ đưa được
    một lực lượng lớn nào vào đóng trong tỉnh.
    Năm 1948, để tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng, Hồ Chí Minh đã
    chia đất nước thành bốn loại vùng quân sự: vùng tự do, vùng căn cứ du
    kích, vùng chiến tranh du kích và vùng tạm chiến. Theo đó, các tỉnh Bình
    Định, Quảng Ngãi và Quảng Nam (phía Bắc Quảng Tín) là những vùng tự
    do, có nghĩa là các vùng này được giải phóng khỏi quân Pháp và lực lượng
    của Bảo Đại. Thị trấn Đức Phổ ở khu vực phía Nam của tỉnh Quảng Ngãi
    lúc đó đã trở thành một trong số các căn cứ lớn nhất của Việt Minh. Con
    gái Đức Phổ vốn có tiếng xinh đẹp, nhưng nóng nảy, có tinh thần độc lập.
    Vì vậy mà có một bài vè khuyên răn các chàng chiến binh đến Đức Phổ
    phải chung thuỷ với cô bạn gái Đức Phổ vốn hay ghen của mình, nếu không
    thì các anh sẽ có nguy cơ mất chức năng đàn ông bởi bàn tay của chính bạn
    gái mình như chơi!
    Năm 1954, phần lớn bộ đội và cán bộ chính trị Việt Minh tập kết ra
    miền Bắc, nhưng vẫn còn một số lực lượng cốt cán đáng kể được cài lại ở
    Quảng Ngãi và các tỉnh lân cận nhằm duy trì ảnh hưởng của cách mạng,
    không cho ảnh hưởng của chính quyền Sài Gòn vượt ra khỏi phạm vi một
    số ít thành phố trong vùng. Suốt những năm đầu thập niên 1960, cả một thế
    hệ thanh niên nông thôn ở đây không hề biết một chính quyền nào khác
    https://thuviensach.vn

    ngoài Việt Minh và Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Họ chẳng những học chữ
    trong các nhà trường của Việt Minh và Mặt trận Giải phóng mà họ còn học
    các bài hát cách mạng, học đệm đàn ghi-ta và đàn măng-đô-lin trong phong
    trào ca nhạc do Mặt trận phát động.
    Đầu năm 1962, chính quyền Sài Gòn coi các tỉnh này là căn cứ địa của
    Mặt trận Giải phóng Dân tộc, nên đã đặc biệt đẩy mạnh việc thực hiện
    chương trình “Ấp chiến lược” ở đó. Chương trình nhằm tách dân ra khỏi
    chiến sĩ và cán bộ của Mặt trận đang sống hoà lẫn trong dân. Và để thực
    hiện điều này, một trong những biện pháp thường được chính quyền áp
    dụng là buộc dân chúng rời khỏi làng cũ đến lập ấp mới có hàng rào phòng
    thủ ở một nơi khác. Dưới chế độ khổ sai do chính quyền đặt ra, mỗi người
    đàn ông phải xây đắp một đoạn tường bao quanh ấp chiến lược. Nếu gia
    đình nào từ chối không di chuyển đến ấp chiến lược, binh lính chính quyền
    Sài Gòn có quyền đốt cháy nhà cửa và đồng lúa của họ.
    Vào khoảng cuối năm 1962, một số nơi ở Quảng Ngãi – đặc biệt là các
    khu vực ở ven núi – người ta thấy rải rác đây đó tàn tích của những ngôi
    nhà bị thiêu rụi. Ở Quảng Ngãi cũng như ở các nơi khác của miền Nam,
    chương trình này đã làm người dân sôi sục căm thù chính quyền Sài Gòn,
    khiến hai năm sau chính phủ phải huỷ bỏ và thay thế bằng chương trình Ấp
    Tân sinh. Thông thường thì khi chính quyền xây dựng được một ấp chiến
    lược, Mặt trận cũng nhanh chóng lập lại tổ chức, hoặc cứ tiếp tục duy trì
    mối liên hệ với dân làng tại nơi ở mới, và kết cục là hầu hết các ấp chiến
    lược lại nằm dưới sự kiểm soát của Mặt trận. Những người ủng hộ Mặt trận
    thường viết khẩu hiệu lên cổng hoặc tường quanh ấp. Có một câu thường
    xuất hiện, là hai câu thơ trích trong một bài thơ cổ Trung Quốc, đại ý: “Vạn
    Lý Trường Thành có thể đứng vững bao lâu, khi mà nền móng không phải
    là lòng người?”.
    Cuối tháng 8 năm 1967, sau bốn tháng hành quân, Lực lượng Đặc
    nhiệm Oregon tuyên bố đã tiêu diệt và đếm xác được 3.300 binh sĩ đối
    phương, bắt giữ 5.000 người, và thu được 800 khẩu súng ở các nơi cất giấu
    hoặc gần xác người chết. Họ cũng tuyên bố tổn thất phía Mỹ có 285 chết và
    1.400 bị thương. Trong suốt tháng Tám năm đó, tôi cố gắng đi thật nhiều
    https://thuviensach.vn

    nơi ở Quảng Ngãi để trò chuyện với binh lính và thường dân, và cũng để
    trực tiếp quan sát một số cuộc hành quân đang được lực lượng Đặc nhiệm
    Oregon tiến hành ở phía Bắc Quảng Ngãi và cả vài nơi ở Quảng Tín, giáp
    với Quảng Ngãi.
    Qua các chuyến đi, tôi được các viên chức dân sự cho biết kể từ khi
    Lính thuỷ đánh bộ Mỹ đến đây vào năm 1965, các cuộc hành quân đã làm
    số dân bị gom vào các “trại tị nạn” của chính phủ tăng thêm hơn 100.000
    người, đưa tổng số chính thức lên 138.000 người vào khoảng giữa tháng
    Tám. Các quan chứ người Mỹ và Việt Nam quản lý các trại này ước tính có
    khoảng 40% dân số của tỉnh đã lần lượt qua các trại của họ trong hai năm
    trước. Cũng trong thời gian này, Lính thuỷ đánh bộ Mỹ, Lục quân, Lính
    Thuỷ đánh bộ Hàn Quốc và quân đội Sài Gòn đã huỷ diệt khoảng 70% các
    làng trong tỉnh – có nghĩa là 70% số nhà dân bị huỷ diệt.
    Lần đầu tiên tôi nhận thức được sự huỷ diệt này là khi tôi dành mấy
    ngày đầu tháng Tám để đi quan sát thực địa bằng máy bay với tư cách là
    một phóng viên. Tôi ngồi ở phía sau viên phi công trên một chiếc máy bay
    quan sát 0-1 Cessna một cánh quạt, hai chỗ ngồi, quan sát bằng mắt thường
    toàn bộ dải đất ven biển đông dân của tỉnh. Cứ khi nào có điều kiện là tôi tự
    mình kiểm tra lại con số tỷ lệ phần trăm số nhà bị tiêu huỷ so với ước tính
    của họ. Trong một số quận huyện, tôi cũng có thể kiểm tra ước tính của tôi
    cùng với các viên chỉ huy trên mặt đất, mặc dù không có con số nào được
    công bố chính thức cả. Từ trên độ cao được quy định cho máy bay FAC [*]
    là một ngàn năm trăm bộ (456m), tôi khó nhận biết được con người trừ khi
    họ đội nón lá, nhưng tôi lại có thể dễ dàng quan sát nhà cửa và tàn tích của
    những ngôi nhà bị thiêu huỷ.
    [*] FAC (Forward Air Control plane): loại máy bay nhỏ, làm nhiệm
    vụ trinh sát. Máy bay FAC trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt bao giờ cũng
    do phi công của không quân lái. (Chú thích của tác giả)
    Nhà cửa ở Quảng Ngãi nằm rải rác dưới những lùm cây. Từ trên máy
    bay, những lùm cây nổi lên như những hòn đảo màu xanh thẫm trên nền
    vàng hoặc xanh nhạt của đồng lúa. Nhìn từ không trung, những mái nhà
    còn nguyên vẹn trông giống như những mảng hình vuông màu nâu sẫm, tro
    https://thuviensach.vn

    tàn của những ngôi nhà vừa bị đốt cháy thì như những mảng hình vuông
    màu xám, còn nền đất đã bị nước mưa gột sạch của những ngôi nhà bị thiêu
    huỷ trước đó một tháng hoặc lâu hơn thì lại như những mảnh hình vuông
    màu vàng hoặc đỏ. Khi nhà cửa bị bộ binh đốt cháy, một số bức tường làm
    bằng tre đan trát bùn hoặc xây bằng đá vẫn còn đứng vững; nhưng ở những
    ngôi nhà bị ném bom hoặc xe ủi đất tàn phá thì tường nhà đều bị ủi sập
    hoặc san lấp xuống ruộng lúa. Cách phá hoại nói chung cũng tương tự như
    thế đối với những làng mạc, ruộng đồng đông dân hơn nằm giữa vùng núi
    và bờ biển. Vẫn còn những ngôi làng với chiều rộng vài cây số trải dài hai
    bên đường số 1, một con đường hai làn xe, nơi rải nhựa nơi không, chạy dài
    trên toàn bộ dải đất ven biển và gần như chia đôi dải đất này. Số làng còn
    lại, trừ một số ngoại lệ tôi sẽ nêu sau, đều là bị thiêu huỷ.
    Nhà cửa ở Quảng Ngãi nằm rải rác dưới những lùm cây. Từ trên máy
    bay, những lùm cây nổi lên như những hòn đảo màu xanh thầm trên nền
    vàng hoặc xanh nhạt của đồng lúa. Nhìn từ không trung, những mái nhà
    còn nguyên vẹn trông giống như những mảnh hình vuông màu nâu sẫm, tro
    tàn của những ngôi nhà vừa bị đốt cháy thì như những mảnh hình vuông
    màu nâu sẫm, tro tàn của những ngôi nhà vừa bị đốt cháy thì như những
    mảnh hình vuông màu xám, còn nền đất đã bị nước mưa gột sạch của
    những ngôi nhà bị thiêu huỷ trước đó một tháng hoặc lâu hơn thì lại như
    những mảnh hình vuông màu vàng hoặc đỏ. Khi nhà cửa bị bộ binh đốt
    cháy, một số bức tường làm bằng tre đan trát bùn hoặc xây bằng đá vẫn còn
    đứng vững; nhưng ở những ngôi nhà bị ném bom hoặc xe ủi đất tàn phá thì
    tường nhà đều bị ủi sập hoặc san lấp xuống ruộng lúa. Cách phá hại nói
    chung cũng tương tự như thế đối với những làng mạc, ruộng đồng đông dân
    hơn nằm giữa vùng núi và bờ biển. Vẫn còn những ngôi làng với chiều
    rộng vài cây số trải dài hai bên đường Số 1, một con đường hai làn xe, nơi
    rải nhựa nơi không, chạy dài trên toàn bộ dải đất ven biển và gần như chia
    đôi dải đất này. Số làng còn lại, trừ một số ngoại lệ tôi sẽ nêu sau, đều đã bị
    thiêu huỷ.
    Ở Bình Sơn, huyện xa nhất về phía Bắc của tỉnh, những ngôi nhà
    trước đây được dựng trên vùng đất bằng phẳng đến tận sông Trà Bồng đã bị
    https://thuviensach.vn

    thiêu huỷ toàn bộ. Trong thung lũng sông Trà Bồng, trước đây là vùng đất
    trồng trọt trải dài khoảng 15 cây số vào sâu trong nội địa, những ngôi nhà
    nằm trên suốt chiều dài khoảng 10 cây số ở mạn Bắc dòng sông cũng đều
    bị thiêu huỷ. Chỉ còn tồn tại thị trấn Trà Bồng nằm sâu giữa vùng đồi núi
    với dân số mấy ngàn người, nhờ có một doanh trại lớn của Lực lượng Đặc
    biệt đóng ở đó. Doanh trại này đứng tách riêng ra trên một ngọn đồi nhỏ trơ
    trụi, được bảo vệ lần lượt từ trong ra bằng những hàng rào dây kẽm gai, đến
    hàng rào làm bằng cọc tre vót nhọn, và ngoài cùng là những con hào chạy
    ngoằn ngoèo hình chữ chi. Bên trong là một cụm lán trại thấp xây bằng
    những bao cát nặng nề với mái lợp tôn.
    Dọc con đường Quốc lộ 1 về phía Đông cho đến tận bờ biển thuộc
    huyện Bình Sơn có đến 70-80% số nhà đã bị thiêu huỷ. Về phía Nam sông
    Trà Bồng, tại huyện Sơn Tịnh, vốn thuộc khu Trách nhiệm Chiến thuật của
    Lính thuỷ đánh bộ Hàn Quốc, tình trạng cũng giống như thế. Dọc theo mạn
    Nam sông Trà Bồng, trong khu vực của cái gọi là Đề án Phát Triển Cách
    mạng gần làng An Điềm, nhà cửa vẫn còn nguyên – tuy rằng như tôi đã
    nêu, nhà cửa ở mạn Bắc bên kia sông thuộc khu Trách nhiệm Chiến thuật
    của Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 đều bị thiêu huỷ. Về phía Đông của Quốc lộ 1
    thuộc huyện Sơn Tịnh – trừ một vành đai khoảng vài cây số dọc con đường
    – có đến 80%-90% số nhà cửa từ đó đến sát bờ biển đã biến thành tro bụi.
    Dọc theo sông Trà Khúc, vừa là ranh giới phía Nam của huyện này, nhà cửa
    còn nguyên vẹn trên khoảng mười cây số tính từ con đường đến sườn núi,
    nhưng từ đó – tính từ điểm nơi thung lũng sông bắt đầu uốn lượn giữa các
    ngọn núi – nhà cửa đều đã ra tro.
    Tại một đoạn sông uốn cong hình móng ngựa, tôi nhận ra những dãy
    hào do Mặt trận Dân tộc Giải phóng đào chạy xuống tận trung tâm của
    nhiều ngôi làng và có đôi khi nối hai ba làng lại với nhau. Khắp nơi trên
    tỉnh này, tôi đều thấy có những miệng hầm đen ngòm dẫn vào các hang
    động và mạng lưới đại đạo mà toàn dân dùng làm nơi tránh bom và Mặt
    trận thì dùng làm công sự chiến đấu, nơi ẩn náu và đường rút lui. Nhưng tại
    đoạn hình móng ngựa này, tôi thấy hầm hào đặc biệt dày đặc. Nằm sâu hơn
    trong vùng đồi núi, làng Phước Thọ vẫn còn nhà cửa, kề bên một trại Lực
    https://thuviensach.vn

    lượng Đặc biệt được bố trí trên một ngọn đồi. Nhà cửa trong làng dựng
    chen chúc trên một mảnh đất hình vuông mỗi chiều khoảng một trăm mét,
    có một đường hào bao quanh làng, còn những n
     
    Gửi ý kiến

    Danh ngôn về sách

    “Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    Nhúng mã HTML

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG, XÃ THANH MIỆN, TP HẢI PHÒNG !