THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG GIỚI THIỆU SÁCH CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 26/3
Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường Tiểu học Tứ Cường- Xã Thanh Miện- Thành phố Hải Phòng
Ký ức không quên

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 11h:34' 08-01-2026
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 11h:34' 08-01-2026
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
KÝ ỨC KHÔNG QUÊN
Cái nhìn của một nhà báo Mỹ về những cuộc ném bom ở Việt Nam
Tác giả: Jonathan Schell
Thể loại: Hồi kí
NXB Dân Trí
Ebook: Cuibap
Text: Waka.vn
Ngày cập nhật: 24/07/2017
https://thuviensach.vn
Trích Dẫn
“Trong cuốn sách này, tôi không chủ yếu viết về những người lính
trong quân đội Mỹ. Tôi viết về một phần giới hạn của cuộc chiến, viết về sự
huỷ diệt do quân đội Mỹ gây ra như tôi đã tận mắt nhìn thấy ở miền Nam
Việt Nam. Tất cả người Mỹ chúng ta đều phải chịu trách nhiệm về cuộc
chiến tranh này, chứ không phải chỉ các binh sĩ cầm súng.”
- Jonathan Schell
“Khi về Mỹ, tôi sẽ tự co mình lại và không hề hé răng. Mọi sự việc ở
đây tàn bạo quá mức nên sẽ chẳng có ai tin lời tôi nói đâu. Và tôi cũng
không muốn chết vì bực bội nếu phải cố tìm mọi cách làm cho họ tin những
điều tôi nói.”
- Sproul, một binh nhì quê ở Texas
https://thuviensach.vn
Lời Tác Giả(*)
(*) Lời giới thiệu về tác giả viết trong lần xuất bản tại Mỹ, năm 1968.
Cuốn sách này viết về những gì đang xảy ra ở miền Nam Việt Nam –
đối với con người và đất đai ở đó – do sự hiện diện của quân đội Mỹ gây
ra.
Tôi sẽ không bàn về những khía cạnh đạo lý của sự có mặt ấy. Đơn
giản tôi chỉ nêu lên những điều tai nghe mắt thấy trong những tuần lễ tôi đi
cùng các đơn vị Mỹ ở miền Nam Việt Nam vào mùa hè năm 1967. Những
điều tôi nghe và thấy – phần lớn liên quan đến sự huỷ diệt đang diễn ra ở
miền Nam Việt Nam – đã giúp tôi phát hiện ra đặc điểm kỳ lạ của cuộc
chiến tranh này. Theo thời gian, tôi hiểu ra đó chính là cách đối phó của
quân đội Mỹ trước những thực tế đặc thù hết sức đa dạng của cuộc chiến:
sự chênh lệch rất xa về quy mô và sức mạnh giữa hai đối thủ; thực tế là
người Mỹ đang đánh nhau ở một nơi cách xa nước mình hàng chục nghìn
dặm; thực tế là người Việt Nam là một dân tộc châu Á và sống ở một đất
nước chưa công nghiệp hoá; thực tế là người Mỹ đang ném bom miền Bắc
Việt Nam còn người Bắc Việt Nam lại không thể ném bom nước Mỹ; thực
tế là người ta chỉ chống trả việc chúng ta ném bom ở miền Nam bằng vũ
khí nhỏ; thực tế là binh sĩ Mỹ thường không thể phân biệt giữa thù với bạn
hoặc dân thường; thực tế là tình trạng kém cỏi và thối nát của chính quyền
Sài Gòn, là vai trò thứ yếu của Quân đội Nam Việt Nam – những kẻ đang
nghĩ rằng chúng ta đến đây là để hỗ trợ họ; thực tế là đối phương đang tiến
hành một cuộc chiến tranh du kích còn chúng ta thì đang tiến hành một
cuộc chiến tranh cơ giới hoá; và cuối cùng, một thực tế bao trùm và kỳ
quặc là: bề ngoài thì có vẻ như không cố tình, nhưng kỳ thực chính chúng
ta đang tàn phá đất nước mà chúng ta cứ nghĩ là đang đến để bảo vệ nó.
Như nhiều người Mỹ khác, tôi phản đối chính sách của Mỹ ở Việt
Nam. Khi tôi nói chuyện với những lính Mỹ chiến đấu ở Việt Nam, tôi luôn
cảm thấy đau buồn về những điều người ta ra lệnh cho họ làm và về những
https://thuviensach.vn
điều họ đã làm. Mặt khác, tôi không thể quên được sự thật là những người
lính ấy cho rằng họ phải thực thi nhiệm vụ, rằng không có sự lựa chọn nào
khác. Tôi cũng không quên được sự thật là họ đang phải sống trong trạng
thái căng thẳng khủng khiếp, và cũng giống như mọi chiến binh trong mọi
cuộc chiến, họ đang cố níu lấy sự sống và cố giữ cho tinh thần được tỉnh
táo. Nếu như đất nước chúng ta sẩy chân sa vào cuộc chiến vì sai lầm, thì
đó không phải là sai lầm của họ. Nếu như việc chúng ta tiếp tục leo thang
chiến tranh là tội lỗi, thì tội lỗi đó chắc chắn không chỉ là của riêng mình
họ. Nếu như thế thảm hoạ này đến thảm hoạ khác ập đến đầu nhân dân Việt
Nam, thì những thảm hoạ đó chính là hậu quả tất yếu của cuộc can thiệp
của chúng ta.
Đã có hàng chục nghìn lính Mỹ thiệt mạng hoặc bị thương ở Việt
Nam, có nhiều người trong số đó tin rằng họ đã chiến đấu vì chính nghĩa,
và một số binh sĩ mà tôi vừa quen biết ở Việt Nam rồi cũng ngã xuống hoặc
bị thương trong cùng một niềm tin như thế. Một số binh sĩ của chúng ta đã
bị chiến tranh biến thành những kẻ tàn bạo. Tôi cũng có thể bị biến thành
như thế nếu như tôi chiến đấu bên cạnh họ, cũng như những người thuộc
bên này hoặc bên kia chiến tuyến trong mọi cuộc chiến tranh đã từng bị
biến thành những kẻ tàn bạo. Tuy vậy, một số trong bọn họ đã thực thi
nhiệm vụ nhưng không khỏi động lòng trắc ẩn đối với thường dân Việt
Nam và ngay cả đối với kẻ thù trong chiến đấu.
Trong cuốn sách này, tôi không chủ yếu viết về những người lính
trong quân đội Mỹ. Tôi viết về một phần giới hạn của cuộc chiến, viết về sự
huỷ diệt do quân đội Mỹ gây ra như tôi đã tận mắt nhìn thấy (phần lớn từ
trên máy bay) đối với một khu vực nông thôn của miền Nam Việt Nam. Tất
cả người Mỹ chúng ta đều phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh này,
chứ không phải chỉ các binh sĩ cầm súng. Tôi không có ý muốn phê phán
những cá nhân người Mỹ chiến đấu ở Việt Nam. Tôi chỉ muốn ghi nhận
những điều tôi chứng kiến, với hy vọng rằng điều đó sẽ giúp tất cả người
Mỹ hiểu được tốt hơn điều chúng ta đang làm.
- Jonathan Schell
https://thuviensach.vn
Về Tác Giả Jonathan Schell
Tác giả Jonathan Schell sinh năm 1943, là một giáo sư và cây bút nổi
tiếng với rất nhiều bài báo đăng trên The Nation, The New Yorker, và
TomDispatch.
Schell nhận bằng tốt nghiệp cử nhân danh dự của Đại học Harvard
năm 1965 và tốt nghiệp khoá tiếng Nhật mở rộng tại Đại học International
Christian. Ngoài tiếng Anh, ông còn thông thạo tiếng Pháp và tiếng Nhật.
Ông bắt đầu sự nghiệp của mình trong vai trò phóng viên chính thức của
tạp chí The New Yorker từ năm 1967 đến năm 1987, và sau đó là Phó tổng
biên tập của tạp chí này.
Trong suốt thời gian đó, Jonathan Schell là cây bút chính phụ trách
mảng Sự kiện và Công luận. Ngoài những bài báo nổi tiếng, ông còn là một
tác giả lớn trong việc phản ánh các vấn đề thời sự nóng bỏng của thời đại
với hàng chục quyển sách có giá trị thức tỉnh con người về sự tàn nhẫn và
phi lý của chiến tranh, đặc biệt là hiểm hoạ hạt nhân. Những nỗ lực to lớn
đó đã giúp ông nhận giải Văn chương phi tiểu thuyết Lannan (Lannan
Award for Literary Non- fiction).
Ngoài việc cầm bút, Jonathan Schell còn tham gia giảng dạy tại các
trường Đại học Emory, Đại học Princeton, Đại học New York và Đại học
Wesleyan. Năm 1987, ông là thành viên của Viện Chính trị học và năm
2002 là thành viên của Trung tâm Báo chí, Chính trị và Chính sách công
Shorenstein thuộc Trường hành chính John F. Kennedy – Đại học Harvard.
Năm 2003, ông tham gia dạy khoá học về các vấn đề hạt nhân tại Đại học
Luật Yale. Từ năm 1988, ông trở thành thành viên Hoà bình Harold Willens
của Viện Quốc gia và Hoà bình và là thông tín viên giải trừ quân bị của tạp
chí The Nation.
Trong những năm gần đây, ông đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp
viết lách và diễn thuyết về vấn đề hạt nhân. Ông xuất hiện thường xuyên
trên sóng phát thanh và các chương trình truyền hình, được các thành viên
https://thuviensach.vn
quốc hội Mỹ và cả giới báo chí tham vấn. Năm 2002 và 2003, Jonathan
Schell nổi tiếng là một người chỉ trích dai dẳng kế hoạch Mỹ xâm chiếm
Iraq. Năm 2005, ông là khách mời danh dự của Trung tâm Nghiên cứu
Toàn cầu hoá thuộc Đại học Yale.
Trong suốt sự nghiệp của mình, Schell đã nhận nhiều giải thưởng uy
tín như: Giải thưởng Văn chương, Giải thưởng Học viện Nghệ thuật văn
Văn chương Hoa Kỳ (năm 1973), Giải Tiến sĩ Văn chương Nhân đạo và
Giải thưởng MacArthur Foundation cho các tác phẩm viết về An ninh và
Hoà bình trong giai đoạn 1989-1990. Năm 2004, ông nhận giải thưởng Giải
pháp tương lai không hạt nhân như một sự tưởng thưởng cho các nỗ lực
không mệt mỏi về vấn đề hạt nhân thế giới.
https://thuviensach.vn
1
Vào mùa xuân năm 1967, Bộ Tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ ở miền
Nam Việt Nam tổ chức một lực lượng mới, gọi là Lực lượng Đặc nhiệm
Oregon, bằng cách tập hợp Lữ đoàn Bộ binh nhẹ 196, Lữ đoàn 3 của Sư
đoàn Bộ binh 4 và Lữ đoàn 1 của Sư đoàn Không vận 101. Lực lượng này
bố trí tại tỉnh Quảng Ngãi, là tỉnh thứ năm ở phía Nam khu phi quân sự dọc
theo bờ biển.
Việc thành lập lực lượng đặc nhiệm mới – một lực lượng đặt dưới sự
chỉ huy của Lực lượng lính thuỷ đánh bộ 3 – là nhằm để tăng cường đối
phó với chiến sự đang tăng lên dọc khu phi quân sự. Dãy Trường Sơn ở
đoạn Quảng Ngãi lượn ra gần biển, giữa núi và biển là một dải đất bằng
phẳng có thể trồng trọt được. Dải đất này dài khoảng tám mươi cây số, chỗ
rộng nhất là hai mươi lăm, nơi hẹp nhất là mười cây số. Lực lượng đồng
minh của Mỹ chia vùng đất này – vốn là nơi sinh sống của hơn 80% trong
tổng số 650.000 dân của tỉnh – thành bốn Khu Trách nhiệm chiến thuật,
phạm vi xấp xỉ bằng nhau, và mỗi khu được giao cho một lữ đoàn chịu
trách nhiệm. Tính từ Bắc xuống Nam là các lữ đoàn: Lữ đoàn nhẹ 196, Lữ
đoàn Lính thuỷ đánh bộ Hàn Quốc (đã đổ bộ lên Quảng Ngãi từ mùa hè
năm 1966), Lữ đoàn Quân lực Việt Nam Cộng hoà (viết tắt là ARVN và
người Mỹ quen gọi là Arvin) và Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 4. Còn Lữ đoàn 1
của Sư đoàn Không vận 101 làm lực lượng dự bị, sẵn sàng cơ động bằng
máy bay lên thẳng đến bất kỳ nơi nào trong tỉnh để giáng những đòn tấn
công bất ngờ vào đối phương.
Nhiệm vụ chính của Lực lượng Đặc nhiệm Oregon là tìm diệt cái gọi
là các đơn vị chủ lực của Việt Công (cũng gọi là V.C. hoặc Mặt trận Dân
tộc Giải phóng) và quân đội Bắc Việt Nam đang hoạt động trong tỉnh
Quảng Ngãi. Tuy nhiên, để tránh việc lặp đi lặp lại những cách hành quân
https://thuviensach.vn
theo cùng một kiểu có thể giúp đối phương dự đoán được các cuộc di
chuyển của mình, các bộ phận của lực lượng Đặc nhiệm Oregon thỉnh
thoảng cũng hành quân ra ngoài phạm vi Quảng Ngãi, lên đến Quảng Tín
[*] ở phía Bắc hoặc vào Bình Định ở phía Nam.
[*] Tỉnh Quảng Tín (thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam ngày nay) gồm 6
quận 1 thị xã, 89 xã, tỉnh ly đặt tại thị xã Tam Kỳ, thành lập theo sắc lệnh
162-Nv ngày 31/07/1962 của chính phủ Việt Nam Cộng hoà. (Chú thích của
người dịch)
Khu vực hành quân của Lực lượng Đặc nhiệm Oregon là vùng ven
biển nhiều rừng núi của Nam Việt Nam trải dài từ phía Nam thành phố Huế
đến tỉnh Bình Định, vùng này từ xưa đã nổi tiếng vì phong cảnh thiên nhiên
đẹp và con người tuy nghèo nhưng giàu lòng tự hào và mến khách. Dải đất
này tuy bằng phẳng nhưng lại là đất cát chẳng mấy màu mỡ, không thuận
lợi cho việc trồng trọt. Vì vậy nên từ xa xưa đã có một bộ phận lớn nông
dân làm các nghề khác như đánh cá ở biển Đông hoặc khai thác gỗ trên
rừng. Nhiều người làm nghề thủ công tại nhà; và vùng này đã từng nổi
tiếng về lụa tơ tằm và nghề dệt chiếu với nguyên liệu là những cây cối mọc
đầy hai bên bờ các dòng sông.
Cư dân bản địa các tỉnh nhiều núi rừng này phần lớn là dân vùng nông
thôn, có giọng nói ngang ngang nặng âm sắc địa phương, người Sài Gòn
nghe dễ nhận ra đó là người ở các tỉnh. Phần lớn người dân có thân hình
thấp hơn người ở nơi khác, dáng vẻ chất phác, chắc nịch, cằm vuông, bản
tính thật thà, dũng cảm. Mãi đến năm 1964, đa số các trường tiểu học trong
vùng vẫn viết lên tường câu châm ngôn từ ngàn đời của người Việt “Đói
cho sạch, rách cho thơm”. Có lẽ vì đất đai quá cằn cỗi không giúp cho con
người làm nên những cơ nghiệp lớn, nên những gia đình khá giả trong vùng
thường đặc biệt quan tâm cho con cái ăn học đến nơi đến chốn. Trước khi
Việt Nam bị chia cắt vào năm 1954, trình độ học vấn của phần lớn dân
chúng ở miền Nam Việt Nam thấp hơn nhiều so với miền Bắc, nhưng sinh
viên từ các tỉnh rừng núi ven biển này lại có tiếng là xuất sắc tại trường Đại
học Hà Nội, được xem là trường danh tiếng nhất của cả nước lúc bấy giờ.
Một số lớn nhà văn nổi tiếng của Việt Nam sinh ra và lớn lên ở vùng đất
https://thuviensach.vn
này. Ở sâu trong vùng núi của mấy tỉnh phía Bắc là những bộ tộc thiểu số
mà người Pháp gọi là người Thượng, sinh sống bằng cách đốt rẫy làm
nương, trồng tỉa, đến khi đất bạc màu họ lại di chuyển đi nơi khác.
Theo sử sách ghi lại, nhân dân trong vùng có tiếng là ngang tàng, quật
khởi. Chính từ hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định mà các Chúa Nguyễn hồi
thế kỷ 16 đã tiến hành mở mang bờ cõi tiến xa về phương Nam. Khi người
Pháp bắt đầu cuộc chinh phục Việt Nam vào cuối thế kỷ 19, Quảng Ngãi và
Bình Định là nơi có phong trào vũ trang chống Pháp mãnh liệt nhất, và
cũng chính tại các tỉnh này đã nổ ra đầu tiên các cuộc nổi dậy của nông dân
trong những năm 1930 chống bọn quan lại phục vụ cho thực dân Pháp. Sau
Thế chiến thứ hai, khi Việt Minh phát động cuộc cách mạng và cuối cùng
đã đuổi được người Pháp ra khỏi Việt Nam, Quảng Ngãi trở thành trung
tâm chính của hoạt động cách mạng và quân Pháp chưa bao giờ đưa được
một lực lượng lớn nào vào đóng trong tỉnh.
Năm 1948, để tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng, Hồ Chí Minh đã
chia đất nước thành bốn loại vùng quân sự: vùng tự do, vùng căn cứ du
kích, vùng chiến tranh du kích và vùng tạm chiến. Theo đó, các tỉnh Bình
Định, Quảng Ngãi và Quảng Nam (phía Bắc Quảng Tín) là những vùng tự
do, có nghĩa là các vùng này được giải phóng khỏi quân Pháp và lực lượng
của Bảo Đại. Thị trấn Đức Phổ ở khu vực phía Nam của tỉnh Quảng Ngãi
lúc đó đã trở thành một trong số các căn cứ lớn nhất của Việt Minh. Con
gái Đức Phổ vốn có tiếng xinh đẹp, nhưng nóng nảy, có tinh thần độc lập.
Vì vậy mà có một bài vè khuyên răn các chàng chiến binh đến Đức Phổ
phải chung thuỷ với cô bạn gái Đức Phổ vốn hay ghen của mình, nếu không
thì các anh sẽ có nguy cơ mất chức năng đàn ông bởi bàn tay của chính bạn
gái mình như chơi!
Năm 1954, phần lớn bộ đội và cán bộ chính trị Việt Minh tập kết ra
miền Bắc, nhưng vẫn còn một số lực lượng cốt cán đáng kể được cài lại ở
Quảng Ngãi và các tỉnh lân cận nhằm duy trì ảnh hưởng của cách mạng,
không cho ảnh hưởng của chính quyền Sài Gòn vượt ra khỏi phạm vi một
số ít thành phố trong vùng. Suốt những năm đầu thập niên 1960, cả một thế
hệ thanh niên nông thôn ở đây không hề biết một chính quyền nào khác
https://thuviensach.vn
ngoài Việt Minh và Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Họ chẳng những học chữ
trong các nhà trường của Việt Minh và Mặt trận Giải phóng mà họ còn học
các bài hát cách mạng, học đệm đàn ghi-ta và đàn măng-đô-lin trong phong
trào ca nhạc do Mặt trận phát động.
Đầu năm 1962, chính quyền Sài Gòn coi các tỉnh này là căn cứ địa của
Mặt trận Giải phóng Dân tộc, nên đã đặc biệt đẩy mạnh việc thực hiện
chương trình “Ấp chiến lược” ở đó. Chương trình nhằm tách dân ra khỏi
chiến sĩ và cán bộ của Mặt trận đang sống hoà lẫn trong dân. Và để thực
hiện điều này, một trong những biện pháp thường được chính quyền áp
dụng là buộc dân chúng rời khỏi làng cũ đến lập ấp mới có hàng rào phòng
thủ ở một nơi khác. Dưới chế độ khổ sai do chính quyền đặt ra, mỗi người
đàn ông phải xây đắp một đoạn tường bao quanh ấp chiến lược. Nếu gia
đình nào từ chối không di chuyển đến ấp chiến lược, binh lính chính quyền
Sài Gòn có quyền đốt cháy nhà cửa và đồng lúa của họ.
Vào khoảng cuối năm 1962, một số nơi ở Quảng Ngãi – đặc biệt là các
khu vực ở ven núi – người ta thấy rải rác đây đó tàn tích của những ngôi
nhà bị thiêu rụi. Ở Quảng Ngãi cũng như ở các nơi khác của miền Nam,
chương trình này đã làm người dân sôi sục căm thù chính quyền Sài Gòn,
khiến hai năm sau chính phủ phải huỷ bỏ và thay thế bằng chương trình Ấp
Tân sinh. Thông thường thì khi chính quyền xây dựng được một ấp chiến
lược, Mặt trận cũng nhanh chóng lập lại tổ chức, hoặc cứ tiếp tục duy trì
mối liên hệ với dân làng tại nơi ở mới, và kết cục là hầu hết các ấp chiến
lược lại nằm dưới sự kiểm soát của Mặt trận. Những người ủng hộ Mặt trận
thường viết khẩu hiệu lên cổng hoặc tường quanh ấp. Có một câu thường
xuất hiện, là hai câu thơ trích trong một bài thơ cổ Trung Quốc, đại ý: “Vạn
Lý Trường Thành có thể đứng vững bao lâu, khi mà nền móng không phải
là lòng người?”.
Cuối tháng 8 năm 1967, sau bốn tháng hành quân, Lực lượng Đặc
nhiệm Oregon tuyên bố đã tiêu diệt và đếm xác được 3.300 binh sĩ đối
phương, bắt giữ 5.000 người, và thu được 800 khẩu súng ở các nơi cất giấu
hoặc gần xác người chết. Họ cũng tuyên bố tổn thất phía Mỹ có 285 chết và
1.400 bị thương. Trong suốt tháng Tám năm đó, tôi cố gắng đi thật nhiều
https://thuviensach.vn
nơi ở Quảng Ngãi để trò chuyện với binh lính và thường dân, và cũng để
trực tiếp quan sát một số cuộc hành quân đang được lực lượng Đặc nhiệm
Oregon tiến hành ở phía Bắc Quảng Ngãi và cả vài nơi ở Quảng Tín, giáp
với Quảng Ngãi.
Qua các chuyến đi, tôi được các viên chức dân sự cho biết kể từ khi
Lính thuỷ đánh bộ Mỹ đến đây vào năm 1965, các cuộc hành quân đã làm
số dân bị gom vào các “trại tị nạn” của chính phủ tăng thêm hơn 100.000
người, đưa tổng số chính thức lên 138.000 người vào khoảng giữa tháng
Tám. Các quan chứ người Mỹ và Việt Nam quản lý các trại này ước tính có
khoảng 40% dân số của tỉnh đã lần lượt qua các trại của họ trong hai năm
trước. Cũng trong thời gian này, Lính thuỷ đánh bộ Mỹ, Lục quân, Lính
Thuỷ đánh bộ Hàn Quốc và quân đội Sài Gòn đã huỷ diệt khoảng 70% các
làng trong tỉnh – có nghĩa là 70% số nhà dân bị huỷ diệt.
Lần đầu tiên tôi nhận thức được sự huỷ diệt này là khi tôi dành mấy
ngày đầu tháng Tám để đi quan sát thực địa bằng máy bay với tư cách là
một phóng viên. Tôi ngồi ở phía sau viên phi công trên một chiếc máy bay
quan sát 0-1 Cessna một cánh quạt, hai chỗ ngồi, quan sát bằng mắt thường
toàn bộ dải đất ven biển đông dân của tỉnh. Cứ khi nào có điều kiện là tôi tự
mình kiểm tra lại con số tỷ lệ phần trăm số nhà bị tiêu huỷ so với ước tính
của họ. Trong một số quận huyện, tôi cũng có thể kiểm tra ước tính của tôi
cùng với các viên chỉ huy trên mặt đất, mặc dù không có con số nào được
công bố chính thức cả. Từ trên độ cao được quy định cho máy bay FAC [*]
là một ngàn năm trăm bộ (456m), tôi khó nhận biết được con người trừ khi
họ đội nón lá, nhưng tôi lại có thể dễ dàng quan sát nhà cửa và tàn tích của
những ngôi nhà bị thiêu huỷ.
[*] FAC (Forward Air Control plane): loại máy bay nhỏ, làm nhiệm
vụ trinh sát. Máy bay FAC trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt bao giờ cũng
do phi công của không quân lái. (Chú thích của tác giả)
Nhà cửa ở Quảng Ngãi nằm rải rác dưới những lùm cây. Từ trên máy
bay, những lùm cây nổi lên như những hòn đảo màu xanh thẫm trên nền
vàng hoặc xanh nhạt của đồng lúa. Nhìn từ không trung, những mái nhà
còn nguyên vẹn trông giống như những mảng hình vuông màu nâu sẫm, tro
https://thuviensach.vn
tàn của những ngôi nhà vừa bị đốt cháy thì như những mảng hình vuông
màu xám, còn nền đất đã bị nước mưa gột sạch của những ngôi nhà bị thiêu
huỷ trước đó một tháng hoặc lâu hơn thì lại như những mảnh hình vuông
màu vàng hoặc đỏ. Khi nhà cửa bị bộ binh đốt cháy, một số bức tường làm
bằng tre đan trát bùn hoặc xây bằng đá vẫn còn đứng vững; nhưng ở những
ngôi nhà bị ném bom hoặc xe ủi đất tàn phá thì tường nhà đều bị ủi sập
hoặc san lấp xuống ruộng lúa. Cách phá hoại nói chung cũng tương tự như
thế đối với những làng mạc, ruộng đồng đông dân hơn nằm giữa vùng núi
và bờ biển. Vẫn còn những ngôi làng với chiều rộng vài cây số trải dài hai
bên đường số 1, một con đường hai làn xe, nơi rải nhựa nơi không, chạy dài
trên toàn bộ dải đất ven biển và gần như chia đôi dải đất này. Số làng còn
lại, trừ một số ngoại lệ tôi sẽ nêu sau, đều là bị thiêu huỷ.
Nhà cửa ở Quảng Ngãi nằm rải rác dưới những lùm cây. Từ trên máy
bay, những lùm cây nổi lên như những hòn đảo màu xanh thầm trên nền
vàng hoặc xanh nhạt của đồng lúa. Nhìn từ không trung, những mái nhà
còn nguyên vẹn trông giống như những mảnh hình vuông màu nâu sẫm, tro
tàn của những ngôi nhà vừa bị đốt cháy thì như những mảnh hình vuông
màu nâu sẫm, tro tàn của những ngôi nhà vừa bị đốt cháy thì như những
mảnh hình vuông màu xám, còn nền đất đã bị nước mưa gột sạch của
những ngôi nhà bị thiêu huỷ trước đó một tháng hoặc lâu hơn thì lại như
những mảnh hình vuông màu vàng hoặc đỏ. Khi nhà cửa bị bộ binh đốt
cháy, một số bức tường làm bằng tre đan trát bùn hoặc xây bằng đá vẫn còn
đứng vững; nhưng ở những ngôi nhà bị ném bom hoặc xe ủi đất tàn phá thì
tường nhà đều bị ủi sập hoặc san lấp xuống ruộng lúa. Cách phá hại nói
chung cũng tương tự như thế đối với những làng mạc, ruộng đồng đông dân
hơn nằm giữa vùng núi và bờ biển. Vẫn còn những ngôi làng với chiều
rộng vài cây số trải dài hai bên đường Số 1, một con đường hai làn xe, nơi
rải nhựa nơi không, chạy dài trên toàn bộ dải đất ven biển và gần như chia
đôi dải đất này. Số làng còn lại, trừ một số ngoại lệ tôi sẽ nêu sau, đều đã bị
thiêu huỷ.
Ở Bình Sơn, huyện xa nhất về phía Bắc của tỉnh, những ngôi nhà
trước đây được dựng trên vùng đất bằng phẳng đến tận sông Trà Bồng đã bị
https://thuviensach.vn
thiêu huỷ toàn bộ. Trong thung lũng sông Trà Bồng, trước đây là vùng đất
trồng trọt trải dài khoảng 15 cây số vào sâu trong nội địa, những ngôi nhà
nằm trên suốt chiều dài khoảng 10 cây số ở mạn Bắc dòng sông cũng đều
bị thiêu huỷ. Chỉ còn tồn tại thị trấn Trà Bồng nằm sâu giữa vùng đồi núi
với dân số mấy ngàn người, nhờ có một doanh trại lớn của Lực lượng Đặc
biệt đóng ở đó. Doanh trại này đứng tách riêng ra trên một ngọn đồi nhỏ trơ
trụi, được bảo vệ lần lượt từ trong ra bằng những hàng rào dây kẽm gai, đến
hàng rào làm bằng cọc tre vót nhọn, và ngoài cùng là những con hào chạy
ngoằn ngoèo hình chữ chi. Bên trong là một cụm lán trại thấp xây bằng
những bao cát nặng nề với mái lợp tôn.
Dọc con đường Quốc lộ 1 về phía Đông cho đến tận bờ biển thuộc
huyện Bình Sơn có đến 70-80% số nhà đã bị thiêu huỷ. Về phía Nam sông
Trà Bồng, tại huyện Sơn Tịnh, vốn thuộc khu Trách nhiệm Chiến thuật của
Lính thuỷ đánh bộ Hàn Quốc, tình trạng cũng giống như thế. Dọc theo mạn
Nam sông Trà Bồng, trong khu vực của cái gọi là Đề án Phát Triển Cách
mạng gần làng An Điềm, nhà cửa vẫn còn nguyên – tuy rằng như tôi đã
nêu, nhà cửa ở mạn Bắc bên kia sông thuộc khu Trách nhiệm Chiến thuật
của Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 đều bị thiêu huỷ. Về phía Đông của Quốc lộ 1
thuộc huyện Sơn Tịnh – trừ một vành đai khoảng vài cây số dọc con đường
– có đến 80%-90% số nhà cửa từ đó đến sát bờ biển đã biến thành tro bụi.
Dọc theo sông Trà Khúc, vừa là ranh giới phía Nam của huyện này, nhà cửa
còn nguyên vẹn trên khoảng mười cây số tính từ con đường đến sườn núi,
nhưng từ đó – tính từ điểm nơi thung lũng sông bắt đầu uốn lượn giữa các
ngọn núi – nhà cửa đều đã ra tro.
Tại một đoạn sông uốn cong hình móng ngựa, tôi nhận ra những dãy
hào do Mặt trận Dân tộc Giải phóng đào chạy xuống tận trung tâm của
nhiều ngôi làng và có đôi khi nối hai ba làng lại với nhau. Khắp nơi trên
tỉnh này, tôi đều thấy có những miệng hầm đen ngòm dẫn vào các hang
động và mạng lưới đại đạo mà toàn dân dùng làm nơi tránh bom và Mặt
trận thì dùng làm công sự chiến đấu, nơi ẩn náu và đường rút lui. Nhưng tại
đoạn hình móng ngựa này, tôi thấy hầm hào đặc biệt dày đặc. Nằm sâu hơn
trong vùng đồi núi, làng Phước Thọ vẫn còn nhà cửa, kề bên một trại Lực
https://thuviensach.vn
lượng Đặc biệt được bố trí trên một ngọn đồi. Nhà cửa trong làng dựng
chen chúc trên một mảnh đất hình vuông mỗi chiều khoảng một trăm mét,
có một đường hào bao quanh làng, còn những n
KÝ ỨC KHÔNG QUÊN
Cái nhìn của một nhà báo Mỹ về những cuộc ném bom ở Việt Nam
Tác giả: Jonathan Schell
Thể loại: Hồi kí
NXB Dân Trí
Ebook: Cuibap
Text: Waka.vn
Ngày cập nhật: 24/07/2017
https://thuviensach.vn
Trích Dẫn
“Trong cuốn sách này, tôi không chủ yếu viết về những người lính
trong quân đội Mỹ. Tôi viết về một phần giới hạn của cuộc chiến, viết về sự
huỷ diệt do quân đội Mỹ gây ra như tôi đã tận mắt nhìn thấy ở miền Nam
Việt Nam. Tất cả người Mỹ chúng ta đều phải chịu trách nhiệm về cuộc
chiến tranh này, chứ không phải chỉ các binh sĩ cầm súng.”
- Jonathan Schell
“Khi về Mỹ, tôi sẽ tự co mình lại và không hề hé răng. Mọi sự việc ở
đây tàn bạo quá mức nên sẽ chẳng có ai tin lời tôi nói đâu. Và tôi cũng
không muốn chết vì bực bội nếu phải cố tìm mọi cách làm cho họ tin những
điều tôi nói.”
- Sproul, một binh nhì quê ở Texas
https://thuviensach.vn
Lời Tác Giả(*)
(*) Lời giới thiệu về tác giả viết trong lần xuất bản tại Mỹ, năm 1968.
Cuốn sách này viết về những gì đang xảy ra ở miền Nam Việt Nam –
đối với con người và đất đai ở đó – do sự hiện diện của quân đội Mỹ gây
ra.
Tôi sẽ không bàn về những khía cạnh đạo lý của sự có mặt ấy. Đơn
giản tôi chỉ nêu lên những điều tai nghe mắt thấy trong những tuần lễ tôi đi
cùng các đơn vị Mỹ ở miền Nam Việt Nam vào mùa hè năm 1967. Những
điều tôi nghe và thấy – phần lớn liên quan đến sự huỷ diệt đang diễn ra ở
miền Nam Việt Nam – đã giúp tôi phát hiện ra đặc điểm kỳ lạ của cuộc
chiến tranh này. Theo thời gian, tôi hiểu ra đó chính là cách đối phó của
quân đội Mỹ trước những thực tế đặc thù hết sức đa dạng của cuộc chiến:
sự chênh lệch rất xa về quy mô và sức mạnh giữa hai đối thủ; thực tế là
người Mỹ đang đánh nhau ở một nơi cách xa nước mình hàng chục nghìn
dặm; thực tế là người Việt Nam là một dân tộc châu Á và sống ở một đất
nước chưa công nghiệp hoá; thực tế là người Mỹ đang ném bom miền Bắc
Việt Nam còn người Bắc Việt Nam lại không thể ném bom nước Mỹ; thực
tế là người ta chỉ chống trả việc chúng ta ném bom ở miền Nam bằng vũ
khí nhỏ; thực tế là binh sĩ Mỹ thường không thể phân biệt giữa thù với bạn
hoặc dân thường; thực tế là tình trạng kém cỏi và thối nát của chính quyền
Sài Gòn, là vai trò thứ yếu của Quân đội Nam Việt Nam – những kẻ đang
nghĩ rằng chúng ta đến đây là để hỗ trợ họ; thực tế là đối phương đang tiến
hành một cuộc chiến tranh du kích còn chúng ta thì đang tiến hành một
cuộc chiến tranh cơ giới hoá; và cuối cùng, một thực tế bao trùm và kỳ
quặc là: bề ngoài thì có vẻ như không cố tình, nhưng kỳ thực chính chúng
ta đang tàn phá đất nước mà chúng ta cứ nghĩ là đang đến để bảo vệ nó.
Như nhiều người Mỹ khác, tôi phản đối chính sách của Mỹ ở Việt
Nam. Khi tôi nói chuyện với những lính Mỹ chiến đấu ở Việt Nam, tôi luôn
cảm thấy đau buồn về những điều người ta ra lệnh cho họ làm và về những
https://thuviensach.vn
điều họ đã làm. Mặt khác, tôi không thể quên được sự thật là những người
lính ấy cho rằng họ phải thực thi nhiệm vụ, rằng không có sự lựa chọn nào
khác. Tôi cũng không quên được sự thật là họ đang phải sống trong trạng
thái căng thẳng khủng khiếp, và cũng giống như mọi chiến binh trong mọi
cuộc chiến, họ đang cố níu lấy sự sống và cố giữ cho tinh thần được tỉnh
táo. Nếu như đất nước chúng ta sẩy chân sa vào cuộc chiến vì sai lầm, thì
đó không phải là sai lầm của họ. Nếu như việc chúng ta tiếp tục leo thang
chiến tranh là tội lỗi, thì tội lỗi đó chắc chắn không chỉ là của riêng mình
họ. Nếu như thế thảm hoạ này đến thảm hoạ khác ập đến đầu nhân dân Việt
Nam, thì những thảm hoạ đó chính là hậu quả tất yếu của cuộc can thiệp
của chúng ta.
Đã có hàng chục nghìn lính Mỹ thiệt mạng hoặc bị thương ở Việt
Nam, có nhiều người trong số đó tin rằng họ đã chiến đấu vì chính nghĩa,
và một số binh sĩ mà tôi vừa quen biết ở Việt Nam rồi cũng ngã xuống hoặc
bị thương trong cùng một niềm tin như thế. Một số binh sĩ của chúng ta đã
bị chiến tranh biến thành những kẻ tàn bạo. Tôi cũng có thể bị biến thành
như thế nếu như tôi chiến đấu bên cạnh họ, cũng như những người thuộc
bên này hoặc bên kia chiến tuyến trong mọi cuộc chiến tranh đã từng bị
biến thành những kẻ tàn bạo. Tuy vậy, một số trong bọn họ đã thực thi
nhiệm vụ nhưng không khỏi động lòng trắc ẩn đối với thường dân Việt
Nam và ngay cả đối với kẻ thù trong chiến đấu.
Trong cuốn sách này, tôi không chủ yếu viết về những người lính
trong quân đội Mỹ. Tôi viết về một phần giới hạn của cuộc chiến, viết về sự
huỷ diệt do quân đội Mỹ gây ra như tôi đã tận mắt nhìn thấy (phần lớn từ
trên máy bay) đối với một khu vực nông thôn của miền Nam Việt Nam. Tất
cả người Mỹ chúng ta đều phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh này,
chứ không phải chỉ các binh sĩ cầm súng. Tôi không có ý muốn phê phán
những cá nhân người Mỹ chiến đấu ở Việt Nam. Tôi chỉ muốn ghi nhận
những điều tôi chứng kiến, với hy vọng rằng điều đó sẽ giúp tất cả người
Mỹ hiểu được tốt hơn điều chúng ta đang làm.
- Jonathan Schell
https://thuviensach.vn
Về Tác Giả Jonathan Schell
Tác giả Jonathan Schell sinh năm 1943, là một giáo sư và cây bút nổi
tiếng với rất nhiều bài báo đăng trên The Nation, The New Yorker, và
TomDispatch.
Schell nhận bằng tốt nghiệp cử nhân danh dự của Đại học Harvard
năm 1965 và tốt nghiệp khoá tiếng Nhật mở rộng tại Đại học International
Christian. Ngoài tiếng Anh, ông còn thông thạo tiếng Pháp và tiếng Nhật.
Ông bắt đầu sự nghiệp của mình trong vai trò phóng viên chính thức của
tạp chí The New Yorker từ năm 1967 đến năm 1987, và sau đó là Phó tổng
biên tập của tạp chí này.
Trong suốt thời gian đó, Jonathan Schell là cây bút chính phụ trách
mảng Sự kiện và Công luận. Ngoài những bài báo nổi tiếng, ông còn là một
tác giả lớn trong việc phản ánh các vấn đề thời sự nóng bỏng của thời đại
với hàng chục quyển sách có giá trị thức tỉnh con người về sự tàn nhẫn và
phi lý của chiến tranh, đặc biệt là hiểm hoạ hạt nhân. Những nỗ lực to lớn
đó đã giúp ông nhận giải Văn chương phi tiểu thuyết Lannan (Lannan
Award for Literary Non- fiction).
Ngoài việc cầm bút, Jonathan Schell còn tham gia giảng dạy tại các
trường Đại học Emory, Đại học Princeton, Đại học New York và Đại học
Wesleyan. Năm 1987, ông là thành viên của Viện Chính trị học và năm
2002 là thành viên của Trung tâm Báo chí, Chính trị và Chính sách công
Shorenstein thuộc Trường hành chính John F. Kennedy – Đại học Harvard.
Năm 2003, ông tham gia dạy khoá học về các vấn đề hạt nhân tại Đại học
Luật Yale. Từ năm 1988, ông trở thành thành viên Hoà bình Harold Willens
của Viện Quốc gia và Hoà bình và là thông tín viên giải trừ quân bị của tạp
chí The Nation.
Trong những năm gần đây, ông đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp
viết lách và diễn thuyết về vấn đề hạt nhân. Ông xuất hiện thường xuyên
trên sóng phát thanh và các chương trình truyền hình, được các thành viên
https://thuviensach.vn
quốc hội Mỹ và cả giới báo chí tham vấn. Năm 2002 và 2003, Jonathan
Schell nổi tiếng là một người chỉ trích dai dẳng kế hoạch Mỹ xâm chiếm
Iraq. Năm 2005, ông là khách mời danh dự của Trung tâm Nghiên cứu
Toàn cầu hoá thuộc Đại học Yale.
Trong suốt sự nghiệp của mình, Schell đã nhận nhiều giải thưởng uy
tín như: Giải thưởng Văn chương, Giải thưởng Học viện Nghệ thuật văn
Văn chương Hoa Kỳ (năm 1973), Giải Tiến sĩ Văn chương Nhân đạo và
Giải thưởng MacArthur Foundation cho các tác phẩm viết về An ninh và
Hoà bình trong giai đoạn 1989-1990. Năm 2004, ông nhận giải thưởng Giải
pháp tương lai không hạt nhân như một sự tưởng thưởng cho các nỗ lực
không mệt mỏi về vấn đề hạt nhân thế giới.
https://thuviensach.vn
1
Vào mùa xuân năm 1967, Bộ Tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ ở miền
Nam Việt Nam tổ chức một lực lượng mới, gọi là Lực lượng Đặc nhiệm
Oregon, bằng cách tập hợp Lữ đoàn Bộ binh nhẹ 196, Lữ đoàn 3 của Sư
đoàn Bộ binh 4 và Lữ đoàn 1 của Sư đoàn Không vận 101. Lực lượng này
bố trí tại tỉnh Quảng Ngãi, là tỉnh thứ năm ở phía Nam khu phi quân sự dọc
theo bờ biển.
Việc thành lập lực lượng đặc nhiệm mới – một lực lượng đặt dưới sự
chỉ huy của Lực lượng lính thuỷ đánh bộ 3 – là nhằm để tăng cường đối
phó với chiến sự đang tăng lên dọc khu phi quân sự. Dãy Trường Sơn ở
đoạn Quảng Ngãi lượn ra gần biển, giữa núi và biển là một dải đất bằng
phẳng có thể trồng trọt được. Dải đất này dài khoảng tám mươi cây số, chỗ
rộng nhất là hai mươi lăm, nơi hẹp nhất là mười cây số. Lực lượng đồng
minh của Mỹ chia vùng đất này – vốn là nơi sinh sống của hơn 80% trong
tổng số 650.000 dân của tỉnh – thành bốn Khu Trách nhiệm chiến thuật,
phạm vi xấp xỉ bằng nhau, và mỗi khu được giao cho một lữ đoàn chịu
trách nhiệm. Tính từ Bắc xuống Nam là các lữ đoàn: Lữ đoàn nhẹ 196, Lữ
đoàn Lính thuỷ đánh bộ Hàn Quốc (đã đổ bộ lên Quảng Ngãi từ mùa hè
năm 1966), Lữ đoàn Quân lực Việt Nam Cộng hoà (viết tắt là ARVN và
người Mỹ quen gọi là Arvin) và Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 4. Còn Lữ đoàn 1
của Sư đoàn Không vận 101 làm lực lượng dự bị, sẵn sàng cơ động bằng
máy bay lên thẳng đến bất kỳ nơi nào trong tỉnh để giáng những đòn tấn
công bất ngờ vào đối phương.
Nhiệm vụ chính của Lực lượng Đặc nhiệm Oregon là tìm diệt cái gọi
là các đơn vị chủ lực của Việt Công (cũng gọi là V.C. hoặc Mặt trận Dân
tộc Giải phóng) và quân đội Bắc Việt Nam đang hoạt động trong tỉnh
Quảng Ngãi. Tuy nhiên, để tránh việc lặp đi lặp lại những cách hành quân
https://thuviensach.vn
theo cùng một kiểu có thể giúp đối phương dự đoán được các cuộc di
chuyển của mình, các bộ phận của lực lượng Đặc nhiệm Oregon thỉnh
thoảng cũng hành quân ra ngoài phạm vi Quảng Ngãi, lên đến Quảng Tín
[*] ở phía Bắc hoặc vào Bình Định ở phía Nam.
[*] Tỉnh Quảng Tín (thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam ngày nay) gồm 6
quận 1 thị xã, 89 xã, tỉnh ly đặt tại thị xã Tam Kỳ, thành lập theo sắc lệnh
162-Nv ngày 31/07/1962 của chính phủ Việt Nam Cộng hoà. (Chú thích của
người dịch)
Khu vực hành quân của Lực lượng Đặc nhiệm Oregon là vùng ven
biển nhiều rừng núi của Nam Việt Nam trải dài từ phía Nam thành phố Huế
đến tỉnh Bình Định, vùng này từ xưa đã nổi tiếng vì phong cảnh thiên nhiên
đẹp và con người tuy nghèo nhưng giàu lòng tự hào và mến khách. Dải đất
này tuy bằng phẳng nhưng lại là đất cát chẳng mấy màu mỡ, không thuận
lợi cho việc trồng trọt. Vì vậy nên từ xa xưa đã có một bộ phận lớn nông
dân làm các nghề khác như đánh cá ở biển Đông hoặc khai thác gỗ trên
rừng. Nhiều người làm nghề thủ công tại nhà; và vùng này đã từng nổi
tiếng về lụa tơ tằm và nghề dệt chiếu với nguyên liệu là những cây cối mọc
đầy hai bên bờ các dòng sông.
Cư dân bản địa các tỉnh nhiều núi rừng này phần lớn là dân vùng nông
thôn, có giọng nói ngang ngang nặng âm sắc địa phương, người Sài Gòn
nghe dễ nhận ra đó là người ở các tỉnh. Phần lớn người dân có thân hình
thấp hơn người ở nơi khác, dáng vẻ chất phác, chắc nịch, cằm vuông, bản
tính thật thà, dũng cảm. Mãi đến năm 1964, đa số các trường tiểu học trong
vùng vẫn viết lên tường câu châm ngôn từ ngàn đời của người Việt “Đói
cho sạch, rách cho thơm”. Có lẽ vì đất đai quá cằn cỗi không giúp cho con
người làm nên những cơ nghiệp lớn, nên những gia đình khá giả trong vùng
thường đặc biệt quan tâm cho con cái ăn học đến nơi đến chốn. Trước khi
Việt Nam bị chia cắt vào năm 1954, trình độ học vấn của phần lớn dân
chúng ở miền Nam Việt Nam thấp hơn nhiều so với miền Bắc, nhưng sinh
viên từ các tỉnh rừng núi ven biển này lại có tiếng là xuất sắc tại trường Đại
học Hà Nội, được xem là trường danh tiếng nhất của cả nước lúc bấy giờ.
Một số lớn nhà văn nổi tiếng của Việt Nam sinh ra và lớn lên ở vùng đất
https://thuviensach.vn
này. Ở sâu trong vùng núi của mấy tỉnh phía Bắc là những bộ tộc thiểu số
mà người Pháp gọi là người Thượng, sinh sống bằng cách đốt rẫy làm
nương, trồng tỉa, đến khi đất bạc màu họ lại di chuyển đi nơi khác.
Theo sử sách ghi lại, nhân dân trong vùng có tiếng là ngang tàng, quật
khởi. Chính từ hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định mà các Chúa Nguyễn hồi
thế kỷ 16 đã tiến hành mở mang bờ cõi tiến xa về phương Nam. Khi người
Pháp bắt đầu cuộc chinh phục Việt Nam vào cuối thế kỷ 19, Quảng Ngãi và
Bình Định là nơi có phong trào vũ trang chống Pháp mãnh liệt nhất, và
cũng chính tại các tỉnh này đã nổ ra đầu tiên các cuộc nổi dậy của nông dân
trong những năm 1930 chống bọn quan lại phục vụ cho thực dân Pháp. Sau
Thế chiến thứ hai, khi Việt Minh phát động cuộc cách mạng và cuối cùng
đã đuổi được người Pháp ra khỏi Việt Nam, Quảng Ngãi trở thành trung
tâm chính của hoạt động cách mạng và quân Pháp chưa bao giờ đưa được
một lực lượng lớn nào vào đóng trong tỉnh.
Năm 1948, để tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng, Hồ Chí Minh đã
chia đất nước thành bốn loại vùng quân sự: vùng tự do, vùng căn cứ du
kích, vùng chiến tranh du kích và vùng tạm chiến. Theo đó, các tỉnh Bình
Định, Quảng Ngãi và Quảng Nam (phía Bắc Quảng Tín) là những vùng tự
do, có nghĩa là các vùng này được giải phóng khỏi quân Pháp và lực lượng
của Bảo Đại. Thị trấn Đức Phổ ở khu vực phía Nam của tỉnh Quảng Ngãi
lúc đó đã trở thành một trong số các căn cứ lớn nhất của Việt Minh. Con
gái Đức Phổ vốn có tiếng xinh đẹp, nhưng nóng nảy, có tinh thần độc lập.
Vì vậy mà có một bài vè khuyên răn các chàng chiến binh đến Đức Phổ
phải chung thuỷ với cô bạn gái Đức Phổ vốn hay ghen của mình, nếu không
thì các anh sẽ có nguy cơ mất chức năng đàn ông bởi bàn tay của chính bạn
gái mình như chơi!
Năm 1954, phần lớn bộ đội và cán bộ chính trị Việt Minh tập kết ra
miền Bắc, nhưng vẫn còn một số lực lượng cốt cán đáng kể được cài lại ở
Quảng Ngãi và các tỉnh lân cận nhằm duy trì ảnh hưởng của cách mạng,
không cho ảnh hưởng của chính quyền Sài Gòn vượt ra khỏi phạm vi một
số ít thành phố trong vùng. Suốt những năm đầu thập niên 1960, cả một thế
hệ thanh niên nông thôn ở đây không hề biết một chính quyền nào khác
https://thuviensach.vn
ngoài Việt Minh và Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Họ chẳng những học chữ
trong các nhà trường của Việt Minh và Mặt trận Giải phóng mà họ còn học
các bài hát cách mạng, học đệm đàn ghi-ta và đàn măng-đô-lin trong phong
trào ca nhạc do Mặt trận phát động.
Đầu năm 1962, chính quyền Sài Gòn coi các tỉnh này là căn cứ địa của
Mặt trận Giải phóng Dân tộc, nên đã đặc biệt đẩy mạnh việc thực hiện
chương trình “Ấp chiến lược” ở đó. Chương trình nhằm tách dân ra khỏi
chiến sĩ và cán bộ của Mặt trận đang sống hoà lẫn trong dân. Và để thực
hiện điều này, một trong những biện pháp thường được chính quyền áp
dụng là buộc dân chúng rời khỏi làng cũ đến lập ấp mới có hàng rào phòng
thủ ở một nơi khác. Dưới chế độ khổ sai do chính quyền đặt ra, mỗi người
đàn ông phải xây đắp một đoạn tường bao quanh ấp chiến lược. Nếu gia
đình nào từ chối không di chuyển đến ấp chiến lược, binh lính chính quyền
Sài Gòn có quyền đốt cháy nhà cửa và đồng lúa của họ.
Vào khoảng cuối năm 1962, một số nơi ở Quảng Ngãi – đặc biệt là các
khu vực ở ven núi – người ta thấy rải rác đây đó tàn tích của những ngôi
nhà bị thiêu rụi. Ở Quảng Ngãi cũng như ở các nơi khác của miền Nam,
chương trình này đã làm người dân sôi sục căm thù chính quyền Sài Gòn,
khiến hai năm sau chính phủ phải huỷ bỏ và thay thế bằng chương trình Ấp
Tân sinh. Thông thường thì khi chính quyền xây dựng được một ấp chiến
lược, Mặt trận cũng nhanh chóng lập lại tổ chức, hoặc cứ tiếp tục duy trì
mối liên hệ với dân làng tại nơi ở mới, và kết cục là hầu hết các ấp chiến
lược lại nằm dưới sự kiểm soát của Mặt trận. Những người ủng hộ Mặt trận
thường viết khẩu hiệu lên cổng hoặc tường quanh ấp. Có một câu thường
xuất hiện, là hai câu thơ trích trong một bài thơ cổ Trung Quốc, đại ý: “Vạn
Lý Trường Thành có thể đứng vững bao lâu, khi mà nền móng không phải
là lòng người?”.
Cuối tháng 8 năm 1967, sau bốn tháng hành quân, Lực lượng Đặc
nhiệm Oregon tuyên bố đã tiêu diệt và đếm xác được 3.300 binh sĩ đối
phương, bắt giữ 5.000 người, và thu được 800 khẩu súng ở các nơi cất giấu
hoặc gần xác người chết. Họ cũng tuyên bố tổn thất phía Mỹ có 285 chết và
1.400 bị thương. Trong suốt tháng Tám năm đó, tôi cố gắng đi thật nhiều
https://thuviensach.vn
nơi ở Quảng Ngãi để trò chuyện với binh lính và thường dân, và cũng để
trực tiếp quan sát một số cuộc hành quân đang được lực lượng Đặc nhiệm
Oregon tiến hành ở phía Bắc Quảng Ngãi và cả vài nơi ở Quảng Tín, giáp
với Quảng Ngãi.
Qua các chuyến đi, tôi được các viên chức dân sự cho biết kể từ khi
Lính thuỷ đánh bộ Mỹ đến đây vào năm 1965, các cuộc hành quân đã làm
số dân bị gom vào các “trại tị nạn” của chính phủ tăng thêm hơn 100.000
người, đưa tổng số chính thức lên 138.000 người vào khoảng giữa tháng
Tám. Các quan chứ người Mỹ và Việt Nam quản lý các trại này ước tính có
khoảng 40% dân số của tỉnh đã lần lượt qua các trại của họ trong hai năm
trước. Cũng trong thời gian này, Lính thuỷ đánh bộ Mỹ, Lục quân, Lính
Thuỷ đánh bộ Hàn Quốc và quân đội Sài Gòn đã huỷ diệt khoảng 70% các
làng trong tỉnh – có nghĩa là 70% số nhà dân bị huỷ diệt.
Lần đầu tiên tôi nhận thức được sự huỷ diệt này là khi tôi dành mấy
ngày đầu tháng Tám để đi quan sát thực địa bằng máy bay với tư cách là
một phóng viên. Tôi ngồi ở phía sau viên phi công trên một chiếc máy bay
quan sát 0-1 Cessna một cánh quạt, hai chỗ ngồi, quan sát bằng mắt thường
toàn bộ dải đất ven biển đông dân của tỉnh. Cứ khi nào có điều kiện là tôi tự
mình kiểm tra lại con số tỷ lệ phần trăm số nhà bị tiêu huỷ so với ước tính
của họ. Trong một số quận huyện, tôi cũng có thể kiểm tra ước tính của tôi
cùng với các viên chỉ huy trên mặt đất, mặc dù không có con số nào được
công bố chính thức cả. Từ trên độ cao được quy định cho máy bay FAC [*]
là một ngàn năm trăm bộ (456m), tôi khó nhận biết được con người trừ khi
họ đội nón lá, nhưng tôi lại có thể dễ dàng quan sát nhà cửa và tàn tích của
những ngôi nhà bị thiêu huỷ.
[*] FAC (Forward Air Control plane): loại máy bay nhỏ, làm nhiệm
vụ trinh sát. Máy bay FAC trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt bao giờ cũng
do phi công của không quân lái. (Chú thích của tác giả)
Nhà cửa ở Quảng Ngãi nằm rải rác dưới những lùm cây. Từ trên máy
bay, những lùm cây nổi lên như những hòn đảo màu xanh thẫm trên nền
vàng hoặc xanh nhạt của đồng lúa. Nhìn từ không trung, những mái nhà
còn nguyên vẹn trông giống như những mảng hình vuông màu nâu sẫm, tro
https://thuviensach.vn
tàn của những ngôi nhà vừa bị đốt cháy thì như những mảng hình vuông
màu xám, còn nền đất đã bị nước mưa gột sạch của những ngôi nhà bị thiêu
huỷ trước đó một tháng hoặc lâu hơn thì lại như những mảnh hình vuông
màu vàng hoặc đỏ. Khi nhà cửa bị bộ binh đốt cháy, một số bức tường làm
bằng tre đan trát bùn hoặc xây bằng đá vẫn còn đứng vững; nhưng ở những
ngôi nhà bị ném bom hoặc xe ủi đất tàn phá thì tường nhà đều bị ủi sập
hoặc san lấp xuống ruộng lúa. Cách phá hoại nói chung cũng tương tự như
thế đối với những làng mạc, ruộng đồng đông dân hơn nằm giữa vùng núi
và bờ biển. Vẫn còn những ngôi làng với chiều rộng vài cây số trải dài hai
bên đường số 1, một con đường hai làn xe, nơi rải nhựa nơi không, chạy dài
trên toàn bộ dải đất ven biển và gần như chia đôi dải đất này. Số làng còn
lại, trừ một số ngoại lệ tôi sẽ nêu sau, đều là bị thiêu huỷ.
Nhà cửa ở Quảng Ngãi nằm rải rác dưới những lùm cây. Từ trên máy
bay, những lùm cây nổi lên như những hòn đảo màu xanh thầm trên nền
vàng hoặc xanh nhạt của đồng lúa. Nhìn từ không trung, những mái nhà
còn nguyên vẹn trông giống như những mảnh hình vuông màu nâu sẫm, tro
tàn của những ngôi nhà vừa bị đốt cháy thì như những mảnh hình vuông
màu nâu sẫm, tro tàn của những ngôi nhà vừa bị đốt cháy thì như những
mảnh hình vuông màu xám, còn nền đất đã bị nước mưa gột sạch của
những ngôi nhà bị thiêu huỷ trước đó một tháng hoặc lâu hơn thì lại như
những mảnh hình vuông màu vàng hoặc đỏ. Khi nhà cửa bị bộ binh đốt
cháy, một số bức tường làm bằng tre đan trát bùn hoặc xây bằng đá vẫn còn
đứng vững; nhưng ở những ngôi nhà bị ném bom hoặc xe ủi đất tàn phá thì
tường nhà đều bị ủi sập hoặc san lấp xuống ruộng lúa. Cách phá hại nói
chung cũng tương tự như thế đối với những làng mạc, ruộng đồng đông dân
hơn nằm giữa vùng núi và bờ biển. Vẫn còn những ngôi làng với chiều
rộng vài cây số trải dài hai bên đường Số 1, một con đường hai làn xe, nơi
rải nhựa nơi không, chạy dài trên toàn bộ dải đất ven biển và gần như chia
đôi dải đất này. Số làng còn lại, trừ một số ngoại lệ tôi sẽ nêu sau, đều đã bị
thiêu huỷ.
Ở Bình Sơn, huyện xa nhất về phía Bắc của tỉnh, những ngôi nhà
trước đây được dựng trên vùng đất bằng phẳng đến tận sông Trà Bồng đã bị
https://thuviensach.vn
thiêu huỷ toàn bộ. Trong thung lũng sông Trà Bồng, trước đây là vùng đất
trồng trọt trải dài khoảng 15 cây số vào sâu trong nội địa, những ngôi nhà
nằm trên suốt chiều dài khoảng 10 cây số ở mạn Bắc dòng sông cũng đều
bị thiêu huỷ. Chỉ còn tồn tại thị trấn Trà Bồng nằm sâu giữa vùng đồi núi
với dân số mấy ngàn người, nhờ có một doanh trại lớn của Lực lượng Đặc
biệt đóng ở đó. Doanh trại này đứng tách riêng ra trên một ngọn đồi nhỏ trơ
trụi, được bảo vệ lần lượt từ trong ra bằng những hàng rào dây kẽm gai, đến
hàng rào làm bằng cọc tre vót nhọn, và ngoài cùng là những con hào chạy
ngoằn ngoèo hình chữ chi. Bên trong là một cụm lán trại thấp xây bằng
những bao cát nặng nề với mái lợp tôn.
Dọc con đường Quốc lộ 1 về phía Đông cho đến tận bờ biển thuộc
huyện Bình Sơn có đến 70-80% số nhà đã bị thiêu huỷ. Về phía Nam sông
Trà Bồng, tại huyện Sơn Tịnh, vốn thuộc khu Trách nhiệm Chiến thuật của
Lính thuỷ đánh bộ Hàn Quốc, tình trạng cũng giống như thế. Dọc theo mạn
Nam sông Trà Bồng, trong khu vực của cái gọi là Đề án Phát Triển Cách
mạng gần làng An Điềm, nhà cửa vẫn còn nguyên – tuy rằng như tôi đã
nêu, nhà cửa ở mạn Bắc bên kia sông thuộc khu Trách nhiệm Chiến thuật
của Lữ đoàn bộ binh nhẹ 196 đều bị thiêu huỷ. Về phía Đông của Quốc lộ 1
thuộc huyện Sơn Tịnh – trừ một vành đai khoảng vài cây số dọc con đường
– có đến 80%-90% số nhà cửa từ đó đến sát bờ biển đã biến thành tro bụi.
Dọc theo sông Trà Khúc, vừa là ranh giới phía Nam của huyện này, nhà cửa
còn nguyên vẹn trên khoảng mười cây số tính từ con đường đến sườn núi,
nhưng từ đó – tính từ điểm nơi thung lũng sông bắt đầu uốn lượn giữa các
ngọn núi – nhà cửa đều đã ra tro.
Tại một đoạn sông uốn cong hình móng ngựa, tôi nhận ra những dãy
hào do Mặt trận Dân tộc Giải phóng đào chạy xuống tận trung tâm của
nhiều ngôi làng và có đôi khi nối hai ba làng lại với nhau. Khắp nơi trên
tỉnh này, tôi đều thấy có những miệng hầm đen ngòm dẫn vào các hang
động và mạng lưới đại đạo mà toàn dân dùng làm nơi tránh bom và Mặt
trận thì dùng làm công sự chiến đấu, nơi ẩn náu và đường rút lui. Nhưng tại
đoạn hình móng ngựa này, tôi thấy hầm hào đặc biệt dày đặc. Nằm sâu hơn
trong vùng đồi núi, làng Phước Thọ vẫn còn nhà cửa, kề bên một trại Lực
https://thuviensach.vn
lượng Đặc biệt được bố trí trên một ngọn đồi. Nhà cửa trong làng dựng
chen chúc trên một mảnh đất hình vuông mỗi chiều khoảng một trăm mét,
có một đường hào bao quanh làng, còn những n
 





