THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG GIỚI THIỆU SÁCH CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 26/3
Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường Tiểu học Tứ Cường- Xã Thanh Miện- Thành phố Hải Phòng
Gió đông gió tây

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 09h:55' 22-01-2026
Dung lượng: 634.3 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 09h:55' 22-01-2026
Dung lượng: 634.3 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Phần thứ nhất
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Phần thứ hai
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
Phần thứ nhất
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
1
Tôi khó mà kể chuyện này cho một người nào trong thân tộc của tôi
nghe, vì họ chẳng có mảy may ý niệm nào về miền đất xa xăm chồng tôi đã
lưu học suốt mười hai năm trời. Tôi cũng chẳng thoải mái thảnh thơi khi
ngồi đàm đạo với phụ nữ ngoại quốc chẳng hiểu tí gì về dân tộc tôi cũng như
về nếp sống của chúng tôi từ thời xa xưa. Nhưng với chị, tôi có thể kể tất cả
chuyện này cho chị nghe, vì tôi liệt chị vào hàng chị em thân thích. Suốt đời
chị, chị đã sống giữa lòng đất nước chúng tôi. Cho dù chị là một người nước
Tây phương nơi chồng tôi từng du học, chị vẫn thấu hiểu được câu chuyện.
Cho nên tôi cũng chẳng dấu giếm gì chị hết. Vì đã coi chị vào hàng chị em
thân thiết, tôi xin kể hết cho chị nghe.
Như chị đã biết, từ năm trăm năm nay, tổ tiên kính mến của chúng tôi
đã sống tại đất nước Trung Quốc cổ kính này. Không một ai trong các vị ấy
tỏ ra thích điều mới lạ, thích sự thay đổi. Họ đã sống suốt cuộc đời mình,
thanh thản và trang nghiêm, tin tưởng vào cái nết trung hậu của họ. Cha mẹ
tôi nuôi dưỡng tôi theo chiều hướng như thế, đúng theo tập tục cổ truyền khả
kính. Tôi không hề có mảy may ước muốn nào sống ngoài nếp gia phong ấy.
Không cần bận tâm suy nghĩ gì cả, tôi cứ mường tượng rằng tất cả những ai
đúng thật là người, đều giống tôi. Thảng hoặc, qua lớp tường thâm nghiêm
của gia đình tôi, tôi có thoáng nghe ai xì xầm rằng có những người đàn bà
không giống tôi, họ đi lại tự do, cung cách chẳng khác gì đàn ông con trai,
tôi thản nhiên bỏ qua, chẳng nghĩ gì việc ấy cả. Tôi đã được dạy dỗ uốn nắn
theo tập tục ông bà để lại như thế nào thì tôi cứ theo nếp sống như thế ấy.
Trong cảnh thâm nghiêm kín cổng cao tường, tôi không hề tiếp xúc với bên
ngoài, và tôi cũng chẳng mong ước ham muốn gì hơn. Nhưng bây giờ đây đã
đến lúc tôi phải tiếp xúc, tôi phải chú tâm quan sát những con người kỳ lạ
kia, những người đàn bà tân thời nọ, tôi phải tìm xem có cách nào tôi bắt
chước cho giống họ được chăng. Chị ơi, không phải vì cá nhân tôi mà tôi
làm như vậy đâu. Tôi muốn thay đổi, tôi muốn lột xác để vừa lòng chồng tôi.
Tôi không vừa mắt chồng tôi! Không biết như thế có phải là vì chồng
tôi đã ngao du bốn bể, đến những chân trời xa xăm nên ưa thích những sự
việc, tập tục mới chăng?
Mẹ tôi là người hiền đức. Khi tôi lên mười, nghĩa là hết tuổi ấu thơ, bắt
đầu thành cô gái nhỏ, một hôm mẹ bảo tôi: “Đàn bà con gái phải im lặng như
hoa trước đàn ông con trai và phải đúng lúc và kịp thời lui vào nhà trong để
che giấu những xúc động vui buồn của mình”.
Nhớ lời răn dạy ấy, tôi đã cúi đầu nhìn xuống đất khi tôi gần chồng
tôi và tôi đã e thẹn giơ cả hai tay che giấu mặt không trả lời gì cả khi chồng
tôi hỏi han tôi.
Nhưng tôi sợ rằng chồng tôi không bằng lòng thái độ giữ im lặng
trang nghiêm như thế của tôi.
Có khi tôi cố vắt óc tìm cách làm cho chồng tôi được vui, thì lập tức
trí óc tôi trống rỗng như thửa ruộng sau mùa gặt hái vậy.
Ngồi một mình với món đồ thêu trong tay, tôi nghĩ đến những
chuyện vui đẹp và tế nhị để tỏ tình với chồng tôi. Tất nhiên không phải bằng
những lời lẽ sống sượng hăm hở của Tây phương, mà bằng những lời lẽ úp
mở, chẳng hạn như vầy: “Mình à, mình có ngắm cảnh mặt trời mọc sáng nay
không? Chẳng khác nào như mặt đất bay bổng lên mặt trời vậy. Đang tối mù
bỗng nhiên ánh sáng chan hòa lời ca tiếng nhạc! Mình ơi, em là mặt đất âu
sầu, chờ ánh dương vui”.
Hoặc tối tối, khi chồng tôi dạo chơi trên hồ sen, tôi nhắn nhẹ bóng
gió: “Nước biếc lững lờ không còn được cuốn hút theo mặt trăng thì còn gì
là nước? Sóng biếc không được ánh trăng vờn thì còn gì là sóng? Mình ơi,
xin mình hãy bảo trọng lấy thân trong lúc dạo thuyền để về với em yên lành,
vì nếu không có mình thì thân em nào có khác gì thân sóng thiếu ánh trăng
vờn kia!”
Nhưng khi chồng tôi về đến nhà với bộ âu phục xa lạ kia, tôi không
nói lên được một tiếng nào như vậy cả. Lẽ nào tôi phải lấy một người chồng
ngoại quốc sao? Chồng tôi ít nói lắm, chỉ nhếch mép vài câu rồi thôi, chỉ liếc
mắt thoáng nhìn tôi thôi, dù tôi có mặc áo lụa đào và giắt trâm ngọc lên mái
tóc mới chải chăng nữa.
Nỗi buồn của tôi là vậy đó. Mới thành hôn chưa đầy một tháng, ấy
vậy mà tôi không vừa mắt chồng tôi.
*
Từ ba ngày nay tôi suy nghĩ nhiều lắm, chị ơi. Tôi phải dùng mưu
chước, tìm cách làm cho chồng tôi sủng ái mới được.
Tôi thuộc lớp phụ nữ có nhan sắc, từ đời này sang đời khác đều được
chồng sủng ái. Từ bao đời nay chỉ có một người thiếu nhan sắc mà thôi: đó
là nàng Quí Mi đời Tống, mặt rỗ vì bị bệnh đậu mùa vào năm lên bốn tuổi.
Tuy nhiên, sách chép lại rằng nàng có đôi mắt đen lay láy như hạt huyền và
một giọng nói ru êm làm ngẩn ngơ xao xuyến lòng người, chẳng khác nào
như tiếng gió xuân rì rào trong bụi trúc vậy. Phu quân của nàng sủng ái nàng
đến nỗi trong số sáu người thiếp của ông ta, ông ta nuông chiều nàng hơn
hết! Lại còn nàng Bàng Quí Phi là người luôn luôn có con chim bạch yến
đậu trên tay, nàng nắm gọn tất cả Trung Quốc chỉ vì Thiên tử say mê nhan
sắc của nàng. Tôi tuy là người hèn mọn hơn hết trong hàng những bậc phu
nhân danh giá ấy, tôi vẫn phải có ít nhiều nhan sắc cốt cách của họ chứ.
Tôi ngắm dung nhan trong chiếc gương đồng và nếu tôi đành phải
nhận rằng còn thiếu gì người kém nhan sắc hơn tôi thì đó chỉ là để hãnh diện
cho chồng tôi mà thôi. Đôi mắt tôi tròng trắng tròng đen phân biệt rõ ràng.
Đôi tai tôi nhỏ, nép sát vào da đầu, chỉ còn để lộ ra đôi bông tai lủng lẳng.
Gương mặt trái xoan của tôi điểm cái miệng nhỏ với đôi môi vòng nguyệt.
Chỉ thiếu một chút hồng tươi trên má và đuôi chân mày dài thêm chút nữa là
tôi đủ vẻ mỹ miều. Tôi điểm hồng lên má bằng cách rải một ít bụi phấn hồng
vào lòng bàn tay rồi thoa lên má. Một ngọn bút lông chấm vào mực đen kiện
toàn thêm nét cong dài của cặp chân mày.
Như thế là dung nhan của tôi vừa đủ nét khả ái, sẵn sàng dâng hiến
cho chồng tôi. Nhưng cứ mỗi lần chàng nhìn tôi là một lần tôi nhận ra rằng
chàng chẳng để ý gì đến tôi cả, chẳng thấy nét môi làn mi của tôi ra sao cả.
Tâm trí chàng nghĩ đâu đâu ở chân mây cuối trời nào đó, toàn là những nơi
không có tôi ở đó để chờ đón chàng.
*
Sau khi ông thầy bói cho biết ngày lành tháng tốt làm lễ thành hôn
cho tôi, khi những quả sơn son thiếp vàng đầy ắp phẩm vật hôn lễ, khi chăn
gối màu hồng chất đầy bàn và bánh mứt chồng cao ngút ngọn, mẹ tôi cho gia
nhân gọi tôi vào buồng riêng của bà. Tôi rửa tay, chải lại tóc rồi bước vào.
Mẹ tôi ngồi trên cái ghế bành đen chạm trổ, nhấp từng hớp nước trà nhỏ, cái
điếu hút thuốc bằng tre viền bạc đựng một bên vừa tầm tay. Tôi đứng trước
mặt người, cúi đầu nhìn xuống đất mà vẫn cảm thấy đôi mắt soi mói của
người lướt trên mặt mũi tôi, trên thân hình tôi từ đầu đến chân. Cuối cùng,
mẹ tôi truyền cho tôi ngồi xuống. Gương mặt bình thản của người vẫn mang
vẻ buồn man mác cố hữu. Mẹ tôi vốn là người hiền đức. Người bảo tôi:
“Quí Lan, con à, con sắp về làm vợ một người mà cha mẹ đã hứa gả
cho ngay từ khi con chưa chào đời. Cha con và phụ thân của chồng con là
đôi bạn chí thân, đã thề kết hợp hai gia đình bằng đám cưới của con trai con
gái mình. Năm con chào đời, vị hôn phu của con được sáu tuổi. Số phận của
con đã được đặt định như vậy và con cũng đã được nuôi dưỡng để chu toàn
số mệnh ấy”.
“Suốt mười bảy năm nay, mẹ chỉ nhắm vào, chỉ hướng đến giờ khắc
hợp hôn ấy của con mà thôi. Trong khi dưỡng dục con, mẹ đã nghĩ đến hai
người: thân mẫu của chồng con và chồng con. Nhắm vào thân mẫu của
chồng con, mẹ đã dạy cho con cách thức pha trà và dâng trà cho một người
lớn tuổi, cách thức đứng ngồi trước mặt bà mẹ chồng sao cho phải phép,
cũng như cách thức im lặng nghe lời khen ngợi hoặc quở mắng của bà.
Trong mọi trường hợp, mẹ đã uốn nắn cho con cái nết nhẫn nhục, chẳng
khác gì như một đóa hoa phải chịu cảnh vùi dập của nắng mưa vậy.
“Nhắm vào chồng của con, mẹ đã tập cho con cách thức trang điểm,
cách thức nói năng thưa gửi với chồng con không phải bằng lời mà bằng
khóe mắt, bằng dáng điệu của mình, cũng như cách thức… nhưng thôi,
những điều ấy con sẽ tự hiểu lấy khi đến lúc con chỉ còn một mình đối diện
với chồng con”.
“Như vậy là con đã được rèn luyện kỹ lưỡng về mọi điều liên quan
đến bổn phận một cô gái con nhà nền nếp thuộc hàng danh gia vọng tộc. Con
hãy cố mà làm những món bánh mứt cùng những món ăn ngon kích thích
khẩu vị của chồng con, để chồng con biết đến giá trị của con. Luôn luôn con
phải nhớ làm vừa lòng chồng con bằng tài khôn khéo thay đổi món ăn”.
“Bước ra trình diện cũng như rút vào nhà sau như thế nào cho phải
phép với người trên, ăn nói như thế nào với kẻ dưới, bước lên kiệu cũng như
cáo biệt mẹ chồng giữa chốn đông người như thế nào, tất cả những tập tục lễ
nghi, cách thức xử sự ấy con đều đã biết. Phong cách của một bà chủ nhà đãi
khách, những nụ cười tế nhị thâm trầm, nghệ thuật trang điểm mái tóc bằng
nữ trang và hoa tươi, nghệ thuật thoa son, sơn móng tay, xức nước hoa, kỹ
thuật đi hài vào đôi bàn chân thon bó nhỏ của con. Lạy Trời lạy Phật, mẹ đã
khốn khổ khóc lên khóc xuống bao nhiêu lần chỉ vì đôi bàn chân bó nhỏ ấy
của con! Nhưng cũng phải nói rằng vào lứa tuổi của con hiện giờ, mẹ chưa
hề thấy ai có đôi bàn chân thon nhỏ được như của con. Ngày trước, khi mẹ
bằng tuổi con bây giờ, đôi bàn chân của mẹ cũng không nhỏ được bằng như
thế nữa. Mẹ chỉ mong có một điều là bên gia đình nhà họ Lý họ cũng chú ý
đến lời nhắn nhủ của mẹ mà bó chặt như vậy đôi bàn chân vị hôn thê của anh
con. Nhưng mẹ không được an tâm, vì mẹ nghe nói con nhỏ đó học sách Tứ
Thư, mà phàm đàn bà con gái đã giỏi chữ thì ít có đẹp mắt bao giờ. Để rồi
mẹ sẽ nói lại vụ này với bà mai”.
“Về phần con, nếu chị dâu của con sau này mà được như con thôi là
mẹ đã bằng lòng lắm rồi. Con đã được học đàn tranh là loại đàn bao nhiêu
đời phụ nữ ta xưa nay vẫn so dây nắn phím cho chồng thưởng thức. Ngón
tay con lại khéo léo, móng tay con dài”.
“Con đã được dạy những vần thơ hay nhất của hàng thi bá ngày xưa
và con đã tay đàn miệng hát những câu thơ ấy rất êm tai. Theo mẹ nghĩ thì
bà mẹ chồng của con khó mà tìm thấy thiếu sót trong việc mẹ dạy dỗ con
nên người như bấy lâu nay, ngoại trừ trường hợp con phạm vào tội bất hiếu
lớn thứ ba là đàn bà tuyệt tự không con! Nhưng mẹ sẽ đi đến hết đền này phủ
kia để cầu khẩn cho con, nếu như sau một năm về nhà chồng, con vẫn chưa
mang thai”.
“Mặt tôi đỏ lên… Mà tôi thì nào có lạ lùng gì với việc sinh con đẻ
cái! Niềm mong ước có mang con trai nối dòng vẫn là niềm mong ước trong
một gia đình như gia đình tôi; cha tôi lấy thêm ba người hầu thiếp nữa,
quanh năm suốt tháng họ chỉ biết lo toan đến việc chửa đẻ. Tuy nhiên, khi
nghĩ đến chính mình lâm vào cảnh ấy… Nhưng mẹ tôi không thấy đôi má
ửng hồng của tôi. Mẹ tôi trầm ngâm suy tưởng. Cuối cùng bà nói:
“Chỉ có một điều đáng bận tâm là thằng chồng sắp cưới của con đã
từng đi xa, sống lâu ở ngoại quốc. Nó lại học y khoa ở bên đó nữa. Mẹ cứ
băn khoăn không biết… Nhưng mà thôi. Mẹ cho con lui ra ngoài.”
2
Tôi chưa hề lần nào nghe mẹ tôi nói dài dòng đến như thế. Thật ra mẹ
tôi ít nói lắm, ngoại trừ những lúc phải sai bảo hoặc quở mắng người nhà.
Mẹ tôi có quyền sai bảo và rầy la, vì ở trong phạm vi khu nhà dành cho đàn
bà con gái trong gia đình chúng tôi, mẹ tôi là người đứng đầu, là người vợ
chánh thất, là bà Cả, địa vị cũng như phẩm chất hơn hẳn các người vợ khác
của cha tôi. Chị đã trông thấy mẹ tôi rồi đó. Chắc chị còn nhớ, mẹ tôi gầy
lắm và gương mặt mẹ tôi vừa xanh xao vừa bình thản, chẳng khác gì như đúc
bằng ngà voi vậy. Tôi được nghe nói thời hoa niên trước khi về nhà chồng
mẹ tôi đẹp lắm, hàng lông mày dài rủ bóng chớp chớp như cánh bướm đêm
và đôi môi hồng mơn mởn như nụ hoa. Ngay giờ đây, tuy nhan sắc tàn phai
với tuổi tác, gương mặt mẹ tôi vẫn giữ nguyên hình thon trái xoan như trong
các bức tranh cổ vậy. Còn đôi mắt của người thì người thiếp thứ ba của cha
tôi một hôm bảo tôi rằng: “Đôi mắt của bà Cả là hai hạt huyền chết mòn đi vì
chứng kiến quá nhiều đau khổ!”.
Ngày tôi còn thơ ấu, tôi thấy chẳng ai sánh kịp với mẹ tôi cả, mẹ tôi
hiểu biết nhiều, dáng đi khoan thai chững chạc tự nhiên, khiến các bà thiếp
và lũ em khác mẹ của tôi rất kính nể. Gia nhân hầu hạ trong nhà kính trọng
mẹ tôi, nhưng không thương. Tôi nghe chúng xầm xì oán trách mẹ tôi vì
chúng ăn cắp món gì trong nhà bếp là mẹ tôi biết ngay. Tuy nhiên, mẹ tôi
không lớn tiếng rầy mắng chúng như các bà thiếp vẫn làm khi giận dữ. Khi
mẹ tôi thấy việc gì không vừa ý, mẹ tôi chỉ nói vài lời thôi nhưng đầy ý
khinh miệt, chém xuống người có lỗi như dao bàn cắt da vậy.
*
Mẹ tôi rất đối tốt với anh trai tôi và với tôi, nhưng lúc nào người
cũng nghiêm trang lạnh lùng, đúng theo cốt cách một người giữ địa vị cao
trong gia đình. Mẹ tôi hạ sanh được sáu người con thì bốn qua đời từ lúc còn
bé dại, nên đặt hết quí mến vào cậu con trai thừa tự duy nhất là ông anh tôi.
Mẹ tôi đã có đứa con nối dòng cho gia tộc, vậy là cha tôi không còn lý do gì
để buồn phiền mẹ tôi nữa.
Lại nữa, trong thâm tâm, mẹ tôi cũng lấy làm kiêu hãnh đã sinh ra
được người con trai như anh tôi.
*
Chị đã thấy ông anh tôi rồi đấy. Anh ấy giống mẹ tôi, mình dây,
mảnh mai, cao và thẳng như thân tre non vậy. Ngày còn thơ ấu, hai anh em
tôi sống chung với nhau. Chính anh tôi là người đầu tiên dạy cho tôi viết
những nét chữ Hán. Nhưng anh tôi là con trai, tôi là phận gái “nữ sanh ngoại
tộc”. Khi anh tôi được chín tuổi và tôi lên sáu, anh tôi dời chỗ ở từ khu nhà
dành cho đàn bà trẻ con sang bên phía tư thất dành cho cha tôi. Anh tôi cho
rằng lui tới thăm nom đàn bà con gái là điều xấu hổ, còn chính mẹ tôi cũng
chẳng muốn anh tôi lui tới chỗ đàn bà con gái nữa.
Tự nhiên là tôi không được phép bén mảng đến khu nhà của đàn ông.
Thời gian đầu khi anh em tôi mới xa nhau, một buổi tối, tôi nương bóng đêm
lần mò đến tận bờ rào hình bán nguyệt nhìn sang khu nhà dành cho đàn ông.
Tôi núp vào tường, đưa mắt nhìn khoảng sân bên kia bờ rào, mong thấy anh
tôi ngoài vườn. Nhưng tôi chỉ thấy lũ gia nhân bưng thức ăn bốc khói vội vã
bước đi mà thôi. Khi chúng mở cửa tư thất cha tôi, tiếng cười tiếng nói từ
bên trong vọng ra chen lẫn với một giọng hát đàn bà trong trẻo và cao vút.
Khi cánh cửa nặng nề khép lại, chỉ còn trơ lại cảnh vắng lặng tịch mịch của
hoa viên.
Tôi đứng ở đó lâu lắm rình nghe tiếng cười hể hả của thực khách, hy
vọng phân biệt được tiếng cha tôi lẫn trong cảnh vui vẻ ấy. Bỗng nhiên có
người kéo cánh tay tôi. Thì ra vú Vương, người nô tì thứ nhất của mẹ tôi. Vú
nói lớn:
“Nếu tôi còn bắt gặp tiểu thơ ở đây lần nữa, tôi sẽ mách bà. Đàn bà
con gái dù có là hạng tiện dân chăng nữa, có ai lại đứng rình nhìn lén đàn
ông như thế bao giờ!”
Tôi xấu hổ quá, nói láp dáp:
“Đâu có, tôi tìm anh tôi mà!”
Vú Vương nói chắc nịch:
“Anh của tiểu thư bây giờ cũng là người lớn rồi”.
Thế là tôi đành họa hoằn lắm mới được gặp anh tôi.
Nhưng tôi nghe nói anh tôi ham học tập và sớm đạt được nhiều tiến
bộ với bộ Tứ Thư và Ngũ Kinh, đến nỗi cha tôi đành phải chiều theo ý anh
tôi, cho phép anh theo học một trường ngoại quốc ở Bắc Kinh. Vào lúc sắp
cưới vợ, anh tôi đang theo học trường Đại học quốc gia Bắc Kinh, và trong
thư từ gửi về nhà, anh tôi cứ khẩn nài xin phép được sang Mỹ du học. Thoạt
tiên song thân tôi không bằng lòng, mẹ tôi thì quyết liệt bài bác. Nhưng cha
tôi vốn không thích chuyện rắc rối phiền phức nên tôi biết rằng nếu anh tôi
cứ van nài mãi, rốt cuộc cha tôi cũng cho anh tôi du học để tránh bực mình.
Trong hai lần bãi trường về nhà trước khi tôi đi lấy chồng, anh tôi cứ
nói đến cuốn sách gì đó mà anh gọi là “khoa học”. Mẹ tôi bực lắm, vì người
cho rằng những kiến thức Tây phương như thế chẳng đắc dụng gì cho cuộc
sống một nhà nho Trung Hoa cả. Lần cuối cùng về nhà, anh tôi ăn mặc như
một người ngoại quốc, khiến mẹ tôi hết sức phật ý. Khi anh tôi bước vào nhà
với dáng dấp như mới từ nơi xa lạ nào về, mẹ tôi đập cây gậy trúc xuống nền
nhà, quát:
“Cái thói ở đâu ra vậy? Từ rày về sau, con chớ bao giờ ra trình diện
mẹ với bộ đồ quái gở như vậy nữa, nghe chưa!”
Vậy thì anh tôi buộc lòng phải mặc bộ quốc phục như cũ. Tuy nhiên,
anh tôi cũng cứng đầu tiếp tục mặc bộ Âu phục hai ngày nữa, đến lúc cha tôi
rầy mắng, anh tôi mới đành chịu phép. Mẹ tôi nói đúng. Mặc quốc phục
Trung Hoa, anh tôi có vẻ oai phong đúng mức sinh viên; chứ còn mặc bộ
quần áo kỳ cục nọ, anh chẳng giống bất luận một ai trong gia đình tôi từ xưa
đến nay.
Ngay như trong hai lần bãi trường về nhà ấy, anh tôi cũng ít trò
chuyện với tôi. Tôi không biết loại sách gì, vì không phải loại quốc ngữ. Vả
lại tôi bù đầu lo bao nhiêu công việc chuẩn bị đám cưới tôi.
Trong những lúc họa hoằn lắm anh em tôi trò chuyện với nhau, hiển
nhiên anh tôi không hề nói tới việc vợ con gì cả. Nói chuyện vợ con như thế
giữa một thanh niên và một thiếu nữ là không phải phép. Tuy nhiên bọn nữ
tỳ nghe lén nói lại cho tôi biết rằng anh tôi bướng bỉnh nhất định không chịu
cưới vợ mặc dầu mẹ tôi đã tìm cách định ngày cử hành hôn lễ. Mỗi lần như
thế, anh tôi lại khẩn nài cha tôi dời ngày cưới lại để cho anh tôi tiếp tục học
tập. Tự nhiên là tôi được biết việc anh tôi hứa hôn với thiếu nữ nhà họ Lý,
một gia đình giàu có và địa vị cao trong tỉnh. Ba đời trước đây, vị trưởng tộc
gia đình họ Lý và vị trưởng tộc gia đình tôi làm tri huyện hai huyện kế cận
nhau trong cùng một tỉnh.
Chúng tôi chẳng biết mặt mũi cô dâu ra làm sao cả. Đó là chuyện dĩ
nhiên. Nội vụ đã được cha tôi hoàn tất ngay từ khi anh tôi chưa đầy một tuổi.
Gia đình tôi cũng chẳng hề có ai nói đến bà chị dâu tương lai của tôi cả. Có
một lần tôi nghe vú Vương nói chuyện với các ả nô tỳ khác như sau:
“Có điều đáng tiếc là tiểu thơ nhà họ Lý lớn hơn công tử nhà mình
những ba tuổi. Người chồng phải hơn người vợ cả về mọi mặt, kể cả về tuổi
tác. Được cái gia đình ấy giàu có và thuộc hàng danh gia vọng tộc lâu đời,
và…” Chợt thấy tôi, vú Vương nín bặt, tiếp tục công việc.
Tôi không hiểu vì sao anh tôi không chịu lấy vợ. Bà thiếp thứ nhất
của cha tôi cười giòn khi hay tin ấy, bà nói lớn:
“Chắc cậu ấm nhà mình phải lòng một ả Mãn Thanh xinh đẹp nào ở
Bắc Kinh rồi”.
Nhưng tôi nghĩ anh tôi chỉ say mê sách vở mà thôi.
Thế là tôi cứ cô đơn lớn dần lên trong khu nhà dành riêng cho nữ
giới.
Đành rằng có lũ con các bà thiếp của cha tôi, nhưng tôi biết mẹ tôi
chỉ coi lũ em một cha khác mẹ ấy của tôi như những miệng ăn phải nuôi
thêm, khi bà phân phát hằng ngày phần gạo, dầu và muối. Ngoài ra mẹ tôi
chỉ còn lo nghĩ đến chúng là khi đặt mua số vải xanh trơn cần đến để may
quần áo cho chúng mà thôi.
Còn các bà thiếp của cha tôi, thật ra là những người thất học, cứ gây
gổ với nhau về đủ mọi chuyện và tỏ ra ghen tức gay gắt về mức độ các bà ấy
được cha tôi sủng ái. Lúc đầu thì nhan sắc các bà ấy gợi được khoái cảm nơi
cha tôi, nhưng nhan sắc ấy cũng tàn lụi đi mau chóng như hoa xuân người ta
đem hái chưng vậy, và khi nhan sắc ấy phai tàn thì lòng mến chuộng của cha
tôi cũng tàn lụi theo. Nhưng làm như các bà thiếp không hề biết mình xấu đi
và trước khi cha tôi ghé thăm các bà cứ bỏ đi rất nhiều thì giờ để tô điểm
phấn son, thay đổi quần áo là lượt. Cha tôi cho tiền các hầu thiếp vào những
ngày lễ hoặc khi cha tôi đánh bạc ăn. Các bà thiếp cứ tiêu hoang món tiền
vào bánh kẹo và rượu trà, rồi đến lần sau cha tôi ghé thăm không cho gì cả,
các bà thiếu tiền đâm ra vay mượn lũ nô tỳ để mua hài mới, trâm cài tóc. Lũ
nô tỳ khinh rẻ các bà thiếp không còn được cha tôi sủng ái nữa, nên tha hồ
cho vay ăn lời.
Bà thiếp thứ nhất là một bà mập ú nú, chỉ được cái có đôi tay nhỏ và
đẹp khiến bà ta mãn nghuyện rất nhiều. Bà ta rửa tay trong dầu, thoa phấn
hồng lợt lên lòng bàn tay và sơn móng tay đỏ tươi. Sau đó bà ta xức nước
hoa mộc lan lên bàn tay.
Có khi mẹ tôi đâm bực về sự kiêu hãnh trống rỗng ấy của người thiếp
nọ và mẹ tôi ranh mãnh nhờ bà ta giặt giũ chút ít quần áo hoặc vá may. Bà
thiếp thứ nhất ấy không dám cãi lời, nhưng khóc thầm và than thở lén lút với
các bà thiếp khác rằng mẹ tôi ghen với bà ta và muốn hủy hoại nhan sắc của
bà ta.
Từ lâu rồi cha tôi không còn lưu luyến gì với bà thiếp ấy nữa, nhưng
vẫn cho tiền mỗi lần ghé ngủ đêm tại nhà bà ta để cho bà ta khỏi la lối trách
móc om sòm khiến cha tôi bực mình. Vả chăng cha tôi cũng có ý nể bà ta, vì
bà ta đã có hai đứa con trai với ông.
Hai đứa bé này giống mẹ và chỉ ăn uống suốt ngày. Chúng dùng
những bữa ăn thịnh soạn cùng với con của các bà thiếp khác, nhưng sau đó
lần xuống khu nhà của nô tỳ để giành phần thức ăn dư. Chúng phải khôn
khéo ghê lắm, sợ mẹ tôi biết vì mẹ tôi ghét nhất là cái tật tham ăn. Chính mẹ
tôi chỉ dùng một chén cơm với ít cá khô và một miếng nhỏ thịt gà hoặc vịt
nguội và một hớp trà ướp hoa nữa là xong bữa.
Bà thiếp thứ nhất của cha tôi lại còn cái thói sợ chết nữa. Bà ta ăn rất
nhiều bánh mè trộn đường và dầu, rồi đến khi ngã bệnh, bà ta gọi mấy ông
thầy cúng đến và hứa tặng lược cẩn ngọc nếu thần thánh chữa khỏi bệnh cho
bà ta. Mạnh rồi, bà ta lại ăn bánh mè và quên lời hứa.
Người thiếp thứ nhì là một người đàn bà ủ rũ, ít nói và ít chú ý đến
cuộc sống gia đình. Bà ta có năm đứa con, gồm bốn gái, một trai. Vì chỉ có
một đứa con trai, bà ta lại càng buồn rầu hơn nữa. Bà ta chẳng thiết gì đến
bốn đứa con gái. Chúng bị bỏ rơi hoàn toàn và chỉ được coi như lũ gia nô
chúng tôi mua về làm công việc nhà. Suốt ngày bà ngồi ở một góc sân có
ánh nắng, vạch vú cho đứa con trai bú. Thằng bé xanh xao, ba tuổi rồi mà
chẳng biết nói biết đi, suốt ngày chỉ nhai cặp vú mướp của mẹ.
Bà thiếp thứ ba là người mà tôi ưa hơn hết. Nàng vốn là một vũ công
sống ở Phúc Châu, tên là Lã Mai, và nàng cũng xinh đẹp như đóa hoa mai nở
cánh ửng hồng trên cành cây trụi lá mùa xuân. Nàng cũng mảnh dẻ như cánh
mai tai tái hồng hồng. Nàng không tô má hồng như các bà thiếp khác, chỉ vẽ
cho đậm thêm đôi chân mày mỏng và điểm một chút hồng lên vành môi dưới
mà thôi. Lúc cha tôi mới rước nàng về, chúng tôi ít gặp mặt nàng vì cha tôi
hãnh diện có một hầu thiếp đẹp nên đi đâu cũng dắt nàng theo.
Tuy nhiên nàng ở nhà với chúng tôi suốt năm cuối cùng trước khi tôi
về nhà chồng. Đó là vì nàng mang thai đứa con đầu lòng: thằng bé rất dễ
thương, đẹp và bụ bẫm. Nàng bồng đứa bé đặt vào lòng cha tôi, gọi là đền
đáp lại công ơn cha tôi đã bao bọc, yêu thương nàng.
Trước khi đứa bé chào đời, tâm thần nàng bấn loạn dữ lắm, và nàng
cứ cười sằng sặc mỗi ngày. Thiên hạ ai nấy đều tấm tắc khen nhan sắc nàng,
mà quả thật tôi chưa hề thấy người đàn bà nào đẹp như nàng. Nàng mặc áo
gấm màu ngọc thạch, viền nhung đen, t
Phần thứ nhất
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Phần thứ hai
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
Phần thứ nhất
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
1
Tôi khó mà kể chuyện này cho một người nào trong thân tộc của tôi
nghe, vì họ chẳng có mảy may ý niệm nào về miền đất xa xăm chồng tôi đã
lưu học suốt mười hai năm trời. Tôi cũng chẳng thoải mái thảnh thơi khi
ngồi đàm đạo với phụ nữ ngoại quốc chẳng hiểu tí gì về dân tộc tôi cũng như
về nếp sống của chúng tôi từ thời xa xưa. Nhưng với chị, tôi có thể kể tất cả
chuyện này cho chị nghe, vì tôi liệt chị vào hàng chị em thân thích. Suốt đời
chị, chị đã sống giữa lòng đất nước chúng tôi. Cho dù chị là một người nước
Tây phương nơi chồng tôi từng du học, chị vẫn thấu hiểu được câu chuyện.
Cho nên tôi cũng chẳng dấu giếm gì chị hết. Vì đã coi chị vào hàng chị em
thân thiết, tôi xin kể hết cho chị nghe.
Như chị đã biết, từ năm trăm năm nay, tổ tiên kính mến của chúng tôi
đã sống tại đất nước Trung Quốc cổ kính này. Không một ai trong các vị ấy
tỏ ra thích điều mới lạ, thích sự thay đổi. Họ đã sống suốt cuộc đời mình,
thanh thản và trang nghiêm, tin tưởng vào cái nết trung hậu của họ. Cha mẹ
tôi nuôi dưỡng tôi theo chiều hướng như thế, đúng theo tập tục cổ truyền khả
kính. Tôi không hề có mảy may ước muốn nào sống ngoài nếp gia phong ấy.
Không cần bận tâm suy nghĩ gì cả, tôi cứ mường tượng rằng tất cả những ai
đúng thật là người, đều giống tôi. Thảng hoặc, qua lớp tường thâm nghiêm
của gia đình tôi, tôi có thoáng nghe ai xì xầm rằng có những người đàn bà
không giống tôi, họ đi lại tự do, cung cách chẳng khác gì đàn ông con trai,
tôi thản nhiên bỏ qua, chẳng nghĩ gì việc ấy cả. Tôi đã được dạy dỗ uốn nắn
theo tập tục ông bà để lại như thế nào thì tôi cứ theo nếp sống như thế ấy.
Trong cảnh thâm nghiêm kín cổng cao tường, tôi không hề tiếp xúc với bên
ngoài, và tôi cũng chẳng mong ước ham muốn gì hơn. Nhưng bây giờ đây đã
đến lúc tôi phải tiếp xúc, tôi phải chú tâm quan sát những con người kỳ lạ
kia, những người đàn bà tân thời nọ, tôi phải tìm xem có cách nào tôi bắt
chước cho giống họ được chăng. Chị ơi, không phải vì cá nhân tôi mà tôi
làm như vậy đâu. Tôi muốn thay đổi, tôi muốn lột xác để vừa lòng chồng tôi.
Tôi không vừa mắt chồng tôi! Không biết như thế có phải là vì chồng
tôi đã ngao du bốn bể, đến những chân trời xa xăm nên ưa thích những sự
việc, tập tục mới chăng?
Mẹ tôi là người hiền đức. Khi tôi lên mười, nghĩa là hết tuổi ấu thơ, bắt
đầu thành cô gái nhỏ, một hôm mẹ bảo tôi: “Đàn bà con gái phải im lặng như
hoa trước đàn ông con trai và phải đúng lúc và kịp thời lui vào nhà trong để
che giấu những xúc động vui buồn của mình”.
Nhớ lời răn dạy ấy, tôi đã cúi đầu nhìn xuống đất khi tôi gần chồng
tôi và tôi đã e thẹn giơ cả hai tay che giấu mặt không trả lời gì cả khi chồng
tôi hỏi han tôi.
Nhưng tôi sợ rằng chồng tôi không bằng lòng thái độ giữ im lặng
trang nghiêm như thế của tôi.
Có khi tôi cố vắt óc tìm cách làm cho chồng tôi được vui, thì lập tức
trí óc tôi trống rỗng như thửa ruộng sau mùa gặt hái vậy.
Ngồi một mình với món đồ thêu trong tay, tôi nghĩ đến những
chuyện vui đẹp và tế nhị để tỏ tình với chồng tôi. Tất nhiên không phải bằng
những lời lẽ sống sượng hăm hở của Tây phương, mà bằng những lời lẽ úp
mở, chẳng hạn như vầy: “Mình à, mình có ngắm cảnh mặt trời mọc sáng nay
không? Chẳng khác nào như mặt đất bay bổng lên mặt trời vậy. Đang tối mù
bỗng nhiên ánh sáng chan hòa lời ca tiếng nhạc! Mình ơi, em là mặt đất âu
sầu, chờ ánh dương vui”.
Hoặc tối tối, khi chồng tôi dạo chơi trên hồ sen, tôi nhắn nhẹ bóng
gió: “Nước biếc lững lờ không còn được cuốn hút theo mặt trăng thì còn gì
là nước? Sóng biếc không được ánh trăng vờn thì còn gì là sóng? Mình ơi,
xin mình hãy bảo trọng lấy thân trong lúc dạo thuyền để về với em yên lành,
vì nếu không có mình thì thân em nào có khác gì thân sóng thiếu ánh trăng
vờn kia!”
Nhưng khi chồng tôi về đến nhà với bộ âu phục xa lạ kia, tôi không
nói lên được một tiếng nào như vậy cả. Lẽ nào tôi phải lấy một người chồng
ngoại quốc sao? Chồng tôi ít nói lắm, chỉ nhếch mép vài câu rồi thôi, chỉ liếc
mắt thoáng nhìn tôi thôi, dù tôi có mặc áo lụa đào và giắt trâm ngọc lên mái
tóc mới chải chăng nữa.
Nỗi buồn của tôi là vậy đó. Mới thành hôn chưa đầy một tháng, ấy
vậy mà tôi không vừa mắt chồng tôi.
*
Từ ba ngày nay tôi suy nghĩ nhiều lắm, chị ơi. Tôi phải dùng mưu
chước, tìm cách làm cho chồng tôi sủng ái mới được.
Tôi thuộc lớp phụ nữ có nhan sắc, từ đời này sang đời khác đều được
chồng sủng ái. Từ bao đời nay chỉ có một người thiếu nhan sắc mà thôi: đó
là nàng Quí Mi đời Tống, mặt rỗ vì bị bệnh đậu mùa vào năm lên bốn tuổi.
Tuy nhiên, sách chép lại rằng nàng có đôi mắt đen lay láy như hạt huyền và
một giọng nói ru êm làm ngẩn ngơ xao xuyến lòng người, chẳng khác nào
như tiếng gió xuân rì rào trong bụi trúc vậy. Phu quân của nàng sủng ái nàng
đến nỗi trong số sáu người thiếp của ông ta, ông ta nuông chiều nàng hơn
hết! Lại còn nàng Bàng Quí Phi là người luôn luôn có con chim bạch yến
đậu trên tay, nàng nắm gọn tất cả Trung Quốc chỉ vì Thiên tử say mê nhan
sắc của nàng. Tôi tuy là người hèn mọn hơn hết trong hàng những bậc phu
nhân danh giá ấy, tôi vẫn phải có ít nhiều nhan sắc cốt cách của họ chứ.
Tôi ngắm dung nhan trong chiếc gương đồng và nếu tôi đành phải
nhận rằng còn thiếu gì người kém nhan sắc hơn tôi thì đó chỉ là để hãnh diện
cho chồng tôi mà thôi. Đôi mắt tôi tròng trắng tròng đen phân biệt rõ ràng.
Đôi tai tôi nhỏ, nép sát vào da đầu, chỉ còn để lộ ra đôi bông tai lủng lẳng.
Gương mặt trái xoan của tôi điểm cái miệng nhỏ với đôi môi vòng nguyệt.
Chỉ thiếu một chút hồng tươi trên má và đuôi chân mày dài thêm chút nữa là
tôi đủ vẻ mỹ miều. Tôi điểm hồng lên má bằng cách rải một ít bụi phấn hồng
vào lòng bàn tay rồi thoa lên má. Một ngọn bút lông chấm vào mực đen kiện
toàn thêm nét cong dài của cặp chân mày.
Như thế là dung nhan của tôi vừa đủ nét khả ái, sẵn sàng dâng hiến
cho chồng tôi. Nhưng cứ mỗi lần chàng nhìn tôi là một lần tôi nhận ra rằng
chàng chẳng để ý gì đến tôi cả, chẳng thấy nét môi làn mi của tôi ra sao cả.
Tâm trí chàng nghĩ đâu đâu ở chân mây cuối trời nào đó, toàn là những nơi
không có tôi ở đó để chờ đón chàng.
*
Sau khi ông thầy bói cho biết ngày lành tháng tốt làm lễ thành hôn
cho tôi, khi những quả sơn son thiếp vàng đầy ắp phẩm vật hôn lễ, khi chăn
gối màu hồng chất đầy bàn và bánh mứt chồng cao ngút ngọn, mẹ tôi cho gia
nhân gọi tôi vào buồng riêng của bà. Tôi rửa tay, chải lại tóc rồi bước vào.
Mẹ tôi ngồi trên cái ghế bành đen chạm trổ, nhấp từng hớp nước trà nhỏ, cái
điếu hút thuốc bằng tre viền bạc đựng một bên vừa tầm tay. Tôi đứng trước
mặt người, cúi đầu nhìn xuống đất mà vẫn cảm thấy đôi mắt soi mói của
người lướt trên mặt mũi tôi, trên thân hình tôi từ đầu đến chân. Cuối cùng,
mẹ tôi truyền cho tôi ngồi xuống. Gương mặt bình thản của người vẫn mang
vẻ buồn man mác cố hữu. Mẹ tôi vốn là người hiền đức. Người bảo tôi:
“Quí Lan, con à, con sắp về làm vợ một người mà cha mẹ đã hứa gả
cho ngay từ khi con chưa chào đời. Cha con và phụ thân của chồng con là
đôi bạn chí thân, đã thề kết hợp hai gia đình bằng đám cưới của con trai con
gái mình. Năm con chào đời, vị hôn phu của con được sáu tuổi. Số phận của
con đã được đặt định như vậy và con cũng đã được nuôi dưỡng để chu toàn
số mệnh ấy”.
“Suốt mười bảy năm nay, mẹ chỉ nhắm vào, chỉ hướng đến giờ khắc
hợp hôn ấy của con mà thôi. Trong khi dưỡng dục con, mẹ đã nghĩ đến hai
người: thân mẫu của chồng con và chồng con. Nhắm vào thân mẫu của
chồng con, mẹ đã dạy cho con cách thức pha trà và dâng trà cho một người
lớn tuổi, cách thức đứng ngồi trước mặt bà mẹ chồng sao cho phải phép,
cũng như cách thức im lặng nghe lời khen ngợi hoặc quở mắng của bà.
Trong mọi trường hợp, mẹ đã uốn nắn cho con cái nết nhẫn nhục, chẳng
khác gì như một đóa hoa phải chịu cảnh vùi dập của nắng mưa vậy.
“Nhắm vào chồng của con, mẹ đã tập cho con cách thức trang điểm,
cách thức nói năng thưa gửi với chồng con không phải bằng lời mà bằng
khóe mắt, bằng dáng điệu của mình, cũng như cách thức… nhưng thôi,
những điều ấy con sẽ tự hiểu lấy khi đến lúc con chỉ còn một mình đối diện
với chồng con”.
“Như vậy là con đã được rèn luyện kỹ lưỡng về mọi điều liên quan
đến bổn phận một cô gái con nhà nền nếp thuộc hàng danh gia vọng tộc. Con
hãy cố mà làm những món bánh mứt cùng những món ăn ngon kích thích
khẩu vị của chồng con, để chồng con biết đến giá trị của con. Luôn luôn con
phải nhớ làm vừa lòng chồng con bằng tài khôn khéo thay đổi món ăn”.
“Bước ra trình diện cũng như rút vào nhà sau như thế nào cho phải
phép với người trên, ăn nói như thế nào với kẻ dưới, bước lên kiệu cũng như
cáo biệt mẹ chồng giữa chốn đông người như thế nào, tất cả những tập tục lễ
nghi, cách thức xử sự ấy con đều đã biết. Phong cách của một bà chủ nhà đãi
khách, những nụ cười tế nhị thâm trầm, nghệ thuật trang điểm mái tóc bằng
nữ trang và hoa tươi, nghệ thuật thoa son, sơn móng tay, xức nước hoa, kỹ
thuật đi hài vào đôi bàn chân thon bó nhỏ của con. Lạy Trời lạy Phật, mẹ đã
khốn khổ khóc lên khóc xuống bao nhiêu lần chỉ vì đôi bàn chân bó nhỏ ấy
của con! Nhưng cũng phải nói rằng vào lứa tuổi của con hiện giờ, mẹ chưa
hề thấy ai có đôi bàn chân thon nhỏ được như của con. Ngày trước, khi mẹ
bằng tuổi con bây giờ, đôi bàn chân của mẹ cũng không nhỏ được bằng như
thế nữa. Mẹ chỉ mong có một điều là bên gia đình nhà họ Lý họ cũng chú ý
đến lời nhắn nhủ của mẹ mà bó chặt như vậy đôi bàn chân vị hôn thê của anh
con. Nhưng mẹ không được an tâm, vì mẹ nghe nói con nhỏ đó học sách Tứ
Thư, mà phàm đàn bà con gái đã giỏi chữ thì ít có đẹp mắt bao giờ. Để rồi
mẹ sẽ nói lại vụ này với bà mai”.
“Về phần con, nếu chị dâu của con sau này mà được như con thôi là
mẹ đã bằng lòng lắm rồi. Con đã được học đàn tranh là loại đàn bao nhiêu
đời phụ nữ ta xưa nay vẫn so dây nắn phím cho chồng thưởng thức. Ngón
tay con lại khéo léo, móng tay con dài”.
“Con đã được dạy những vần thơ hay nhất của hàng thi bá ngày xưa
và con đã tay đàn miệng hát những câu thơ ấy rất êm tai. Theo mẹ nghĩ thì
bà mẹ chồng của con khó mà tìm thấy thiếu sót trong việc mẹ dạy dỗ con
nên người như bấy lâu nay, ngoại trừ trường hợp con phạm vào tội bất hiếu
lớn thứ ba là đàn bà tuyệt tự không con! Nhưng mẹ sẽ đi đến hết đền này phủ
kia để cầu khẩn cho con, nếu như sau một năm về nhà chồng, con vẫn chưa
mang thai”.
“Mặt tôi đỏ lên… Mà tôi thì nào có lạ lùng gì với việc sinh con đẻ
cái! Niềm mong ước có mang con trai nối dòng vẫn là niềm mong ước trong
một gia đình như gia đình tôi; cha tôi lấy thêm ba người hầu thiếp nữa,
quanh năm suốt tháng họ chỉ biết lo toan đến việc chửa đẻ. Tuy nhiên, khi
nghĩ đến chính mình lâm vào cảnh ấy… Nhưng mẹ tôi không thấy đôi má
ửng hồng của tôi. Mẹ tôi trầm ngâm suy tưởng. Cuối cùng bà nói:
“Chỉ có một điều đáng bận tâm là thằng chồng sắp cưới của con đã
từng đi xa, sống lâu ở ngoại quốc. Nó lại học y khoa ở bên đó nữa. Mẹ cứ
băn khoăn không biết… Nhưng mà thôi. Mẹ cho con lui ra ngoài.”
2
Tôi chưa hề lần nào nghe mẹ tôi nói dài dòng đến như thế. Thật ra mẹ
tôi ít nói lắm, ngoại trừ những lúc phải sai bảo hoặc quở mắng người nhà.
Mẹ tôi có quyền sai bảo và rầy la, vì ở trong phạm vi khu nhà dành cho đàn
bà con gái trong gia đình chúng tôi, mẹ tôi là người đứng đầu, là người vợ
chánh thất, là bà Cả, địa vị cũng như phẩm chất hơn hẳn các người vợ khác
của cha tôi. Chị đã trông thấy mẹ tôi rồi đó. Chắc chị còn nhớ, mẹ tôi gầy
lắm và gương mặt mẹ tôi vừa xanh xao vừa bình thản, chẳng khác gì như đúc
bằng ngà voi vậy. Tôi được nghe nói thời hoa niên trước khi về nhà chồng
mẹ tôi đẹp lắm, hàng lông mày dài rủ bóng chớp chớp như cánh bướm đêm
và đôi môi hồng mơn mởn như nụ hoa. Ngay giờ đây, tuy nhan sắc tàn phai
với tuổi tác, gương mặt mẹ tôi vẫn giữ nguyên hình thon trái xoan như trong
các bức tranh cổ vậy. Còn đôi mắt của người thì người thiếp thứ ba của cha
tôi một hôm bảo tôi rằng: “Đôi mắt của bà Cả là hai hạt huyền chết mòn đi vì
chứng kiến quá nhiều đau khổ!”.
Ngày tôi còn thơ ấu, tôi thấy chẳng ai sánh kịp với mẹ tôi cả, mẹ tôi
hiểu biết nhiều, dáng đi khoan thai chững chạc tự nhiên, khiến các bà thiếp
và lũ em khác mẹ của tôi rất kính nể. Gia nhân hầu hạ trong nhà kính trọng
mẹ tôi, nhưng không thương. Tôi nghe chúng xầm xì oán trách mẹ tôi vì
chúng ăn cắp món gì trong nhà bếp là mẹ tôi biết ngay. Tuy nhiên, mẹ tôi
không lớn tiếng rầy mắng chúng như các bà thiếp vẫn làm khi giận dữ. Khi
mẹ tôi thấy việc gì không vừa ý, mẹ tôi chỉ nói vài lời thôi nhưng đầy ý
khinh miệt, chém xuống người có lỗi như dao bàn cắt da vậy.
*
Mẹ tôi rất đối tốt với anh trai tôi và với tôi, nhưng lúc nào người
cũng nghiêm trang lạnh lùng, đúng theo cốt cách một người giữ địa vị cao
trong gia đình. Mẹ tôi hạ sanh được sáu người con thì bốn qua đời từ lúc còn
bé dại, nên đặt hết quí mến vào cậu con trai thừa tự duy nhất là ông anh tôi.
Mẹ tôi đã có đứa con nối dòng cho gia tộc, vậy là cha tôi không còn lý do gì
để buồn phiền mẹ tôi nữa.
Lại nữa, trong thâm tâm, mẹ tôi cũng lấy làm kiêu hãnh đã sinh ra
được người con trai như anh tôi.
*
Chị đã thấy ông anh tôi rồi đấy. Anh ấy giống mẹ tôi, mình dây,
mảnh mai, cao và thẳng như thân tre non vậy. Ngày còn thơ ấu, hai anh em
tôi sống chung với nhau. Chính anh tôi là người đầu tiên dạy cho tôi viết
những nét chữ Hán. Nhưng anh tôi là con trai, tôi là phận gái “nữ sanh ngoại
tộc”. Khi anh tôi được chín tuổi và tôi lên sáu, anh tôi dời chỗ ở từ khu nhà
dành cho đàn bà trẻ con sang bên phía tư thất dành cho cha tôi. Anh tôi cho
rằng lui tới thăm nom đàn bà con gái là điều xấu hổ, còn chính mẹ tôi cũng
chẳng muốn anh tôi lui tới chỗ đàn bà con gái nữa.
Tự nhiên là tôi không được phép bén mảng đến khu nhà của đàn ông.
Thời gian đầu khi anh em tôi mới xa nhau, một buổi tối, tôi nương bóng đêm
lần mò đến tận bờ rào hình bán nguyệt nhìn sang khu nhà dành cho đàn ông.
Tôi núp vào tường, đưa mắt nhìn khoảng sân bên kia bờ rào, mong thấy anh
tôi ngoài vườn. Nhưng tôi chỉ thấy lũ gia nhân bưng thức ăn bốc khói vội vã
bước đi mà thôi. Khi chúng mở cửa tư thất cha tôi, tiếng cười tiếng nói từ
bên trong vọng ra chen lẫn với một giọng hát đàn bà trong trẻo và cao vút.
Khi cánh cửa nặng nề khép lại, chỉ còn trơ lại cảnh vắng lặng tịch mịch của
hoa viên.
Tôi đứng ở đó lâu lắm rình nghe tiếng cười hể hả của thực khách, hy
vọng phân biệt được tiếng cha tôi lẫn trong cảnh vui vẻ ấy. Bỗng nhiên có
người kéo cánh tay tôi. Thì ra vú Vương, người nô tì thứ nhất của mẹ tôi. Vú
nói lớn:
“Nếu tôi còn bắt gặp tiểu thơ ở đây lần nữa, tôi sẽ mách bà. Đàn bà
con gái dù có là hạng tiện dân chăng nữa, có ai lại đứng rình nhìn lén đàn
ông như thế bao giờ!”
Tôi xấu hổ quá, nói láp dáp:
“Đâu có, tôi tìm anh tôi mà!”
Vú Vương nói chắc nịch:
“Anh của tiểu thư bây giờ cũng là người lớn rồi”.
Thế là tôi đành họa hoằn lắm mới được gặp anh tôi.
Nhưng tôi nghe nói anh tôi ham học tập và sớm đạt được nhiều tiến
bộ với bộ Tứ Thư và Ngũ Kinh, đến nỗi cha tôi đành phải chiều theo ý anh
tôi, cho phép anh theo học một trường ngoại quốc ở Bắc Kinh. Vào lúc sắp
cưới vợ, anh tôi đang theo học trường Đại học quốc gia Bắc Kinh, và trong
thư từ gửi về nhà, anh tôi cứ khẩn nài xin phép được sang Mỹ du học. Thoạt
tiên song thân tôi không bằng lòng, mẹ tôi thì quyết liệt bài bác. Nhưng cha
tôi vốn không thích chuyện rắc rối phiền phức nên tôi biết rằng nếu anh tôi
cứ van nài mãi, rốt cuộc cha tôi cũng cho anh tôi du học để tránh bực mình.
Trong hai lần bãi trường về nhà trước khi tôi đi lấy chồng, anh tôi cứ
nói đến cuốn sách gì đó mà anh gọi là “khoa học”. Mẹ tôi bực lắm, vì người
cho rằng những kiến thức Tây phương như thế chẳng đắc dụng gì cho cuộc
sống một nhà nho Trung Hoa cả. Lần cuối cùng về nhà, anh tôi ăn mặc như
một người ngoại quốc, khiến mẹ tôi hết sức phật ý. Khi anh tôi bước vào nhà
với dáng dấp như mới từ nơi xa lạ nào về, mẹ tôi đập cây gậy trúc xuống nền
nhà, quát:
“Cái thói ở đâu ra vậy? Từ rày về sau, con chớ bao giờ ra trình diện
mẹ với bộ đồ quái gở như vậy nữa, nghe chưa!”
Vậy thì anh tôi buộc lòng phải mặc bộ quốc phục như cũ. Tuy nhiên,
anh tôi cũng cứng đầu tiếp tục mặc bộ Âu phục hai ngày nữa, đến lúc cha tôi
rầy mắng, anh tôi mới đành chịu phép. Mẹ tôi nói đúng. Mặc quốc phục
Trung Hoa, anh tôi có vẻ oai phong đúng mức sinh viên; chứ còn mặc bộ
quần áo kỳ cục nọ, anh chẳng giống bất luận một ai trong gia đình tôi từ xưa
đến nay.
Ngay như trong hai lần bãi trường về nhà ấy, anh tôi cũng ít trò
chuyện với tôi. Tôi không biết loại sách gì, vì không phải loại quốc ngữ. Vả
lại tôi bù đầu lo bao nhiêu công việc chuẩn bị đám cưới tôi.
Trong những lúc họa hoằn lắm anh em tôi trò chuyện với nhau, hiển
nhiên anh tôi không hề nói tới việc vợ con gì cả. Nói chuyện vợ con như thế
giữa một thanh niên và một thiếu nữ là không phải phép. Tuy nhiên bọn nữ
tỳ nghe lén nói lại cho tôi biết rằng anh tôi bướng bỉnh nhất định không chịu
cưới vợ mặc dầu mẹ tôi đã tìm cách định ngày cử hành hôn lễ. Mỗi lần như
thế, anh tôi lại khẩn nài cha tôi dời ngày cưới lại để cho anh tôi tiếp tục học
tập. Tự nhiên là tôi được biết việc anh tôi hứa hôn với thiếu nữ nhà họ Lý,
một gia đình giàu có và địa vị cao trong tỉnh. Ba đời trước đây, vị trưởng tộc
gia đình họ Lý và vị trưởng tộc gia đình tôi làm tri huyện hai huyện kế cận
nhau trong cùng một tỉnh.
Chúng tôi chẳng biết mặt mũi cô dâu ra làm sao cả. Đó là chuyện dĩ
nhiên. Nội vụ đã được cha tôi hoàn tất ngay từ khi anh tôi chưa đầy một tuổi.
Gia đình tôi cũng chẳng hề có ai nói đến bà chị dâu tương lai của tôi cả. Có
một lần tôi nghe vú Vương nói chuyện với các ả nô tỳ khác như sau:
“Có điều đáng tiếc là tiểu thơ nhà họ Lý lớn hơn công tử nhà mình
những ba tuổi. Người chồng phải hơn người vợ cả về mọi mặt, kể cả về tuổi
tác. Được cái gia đình ấy giàu có và thuộc hàng danh gia vọng tộc lâu đời,
và…” Chợt thấy tôi, vú Vương nín bặt, tiếp tục công việc.
Tôi không hiểu vì sao anh tôi không chịu lấy vợ. Bà thiếp thứ nhất
của cha tôi cười giòn khi hay tin ấy, bà nói lớn:
“Chắc cậu ấm nhà mình phải lòng một ả Mãn Thanh xinh đẹp nào ở
Bắc Kinh rồi”.
Nhưng tôi nghĩ anh tôi chỉ say mê sách vở mà thôi.
Thế là tôi cứ cô đơn lớn dần lên trong khu nhà dành riêng cho nữ
giới.
Đành rằng có lũ con các bà thiếp của cha tôi, nhưng tôi biết mẹ tôi
chỉ coi lũ em một cha khác mẹ ấy của tôi như những miệng ăn phải nuôi
thêm, khi bà phân phát hằng ngày phần gạo, dầu và muối. Ngoài ra mẹ tôi
chỉ còn lo nghĩ đến chúng là khi đặt mua số vải xanh trơn cần đến để may
quần áo cho chúng mà thôi.
Còn các bà thiếp của cha tôi, thật ra là những người thất học, cứ gây
gổ với nhau về đủ mọi chuyện và tỏ ra ghen tức gay gắt về mức độ các bà ấy
được cha tôi sủng ái. Lúc đầu thì nhan sắc các bà ấy gợi được khoái cảm nơi
cha tôi, nhưng nhan sắc ấy cũng tàn lụi đi mau chóng như hoa xuân người ta
đem hái chưng vậy, và khi nhan sắc ấy phai tàn thì lòng mến chuộng của cha
tôi cũng tàn lụi theo. Nhưng làm như các bà thiếp không hề biết mình xấu đi
và trước khi cha tôi ghé thăm các bà cứ bỏ đi rất nhiều thì giờ để tô điểm
phấn son, thay đổi quần áo là lượt. Cha tôi cho tiền các hầu thiếp vào những
ngày lễ hoặc khi cha tôi đánh bạc ăn. Các bà thiếp cứ tiêu hoang món tiền
vào bánh kẹo và rượu trà, rồi đến lần sau cha tôi ghé thăm không cho gì cả,
các bà thiếu tiền đâm ra vay mượn lũ nô tỳ để mua hài mới, trâm cài tóc. Lũ
nô tỳ khinh rẻ các bà thiếp không còn được cha tôi sủng ái nữa, nên tha hồ
cho vay ăn lời.
Bà thiếp thứ nhất là một bà mập ú nú, chỉ được cái có đôi tay nhỏ và
đẹp khiến bà ta mãn nghuyện rất nhiều. Bà ta rửa tay trong dầu, thoa phấn
hồng lợt lên lòng bàn tay và sơn móng tay đỏ tươi. Sau đó bà ta xức nước
hoa mộc lan lên bàn tay.
Có khi mẹ tôi đâm bực về sự kiêu hãnh trống rỗng ấy của người thiếp
nọ và mẹ tôi ranh mãnh nhờ bà ta giặt giũ chút ít quần áo hoặc vá may. Bà
thiếp thứ nhất ấy không dám cãi lời, nhưng khóc thầm và than thở lén lút với
các bà thiếp khác rằng mẹ tôi ghen với bà ta và muốn hủy hoại nhan sắc của
bà ta.
Từ lâu rồi cha tôi không còn lưu luyến gì với bà thiếp ấy nữa, nhưng
vẫn cho tiền mỗi lần ghé ngủ đêm tại nhà bà ta để cho bà ta khỏi la lối trách
móc om sòm khiến cha tôi bực mình. Vả chăng cha tôi cũng có ý nể bà ta, vì
bà ta đã có hai đứa con trai với ông.
Hai đứa bé này giống mẹ và chỉ ăn uống suốt ngày. Chúng dùng
những bữa ăn thịnh soạn cùng với con của các bà thiếp khác, nhưng sau đó
lần xuống khu nhà của nô tỳ để giành phần thức ăn dư. Chúng phải khôn
khéo ghê lắm, sợ mẹ tôi biết vì mẹ tôi ghét nhất là cái tật tham ăn. Chính mẹ
tôi chỉ dùng một chén cơm với ít cá khô và một miếng nhỏ thịt gà hoặc vịt
nguội và một hớp trà ướp hoa nữa là xong bữa.
Bà thiếp thứ nhất của cha tôi lại còn cái thói sợ chết nữa. Bà ta ăn rất
nhiều bánh mè trộn đường và dầu, rồi đến khi ngã bệnh, bà ta gọi mấy ông
thầy cúng đến và hứa tặng lược cẩn ngọc nếu thần thánh chữa khỏi bệnh cho
bà ta. Mạnh rồi, bà ta lại ăn bánh mè và quên lời hứa.
Người thiếp thứ nhì là một người đàn bà ủ rũ, ít nói và ít chú ý đến
cuộc sống gia đình. Bà ta có năm đứa con, gồm bốn gái, một trai. Vì chỉ có
một đứa con trai, bà ta lại càng buồn rầu hơn nữa. Bà ta chẳng thiết gì đến
bốn đứa con gái. Chúng bị bỏ rơi hoàn toàn và chỉ được coi như lũ gia nô
chúng tôi mua về làm công việc nhà. Suốt ngày bà ngồi ở một góc sân có
ánh nắng, vạch vú cho đứa con trai bú. Thằng bé xanh xao, ba tuổi rồi mà
chẳng biết nói biết đi, suốt ngày chỉ nhai cặp vú mướp của mẹ.
Bà thiếp thứ ba là người mà tôi ưa hơn hết. Nàng vốn là một vũ công
sống ở Phúc Châu, tên là Lã Mai, và nàng cũng xinh đẹp như đóa hoa mai nở
cánh ửng hồng trên cành cây trụi lá mùa xuân. Nàng cũng mảnh dẻ như cánh
mai tai tái hồng hồng. Nàng không tô má hồng như các bà thiếp khác, chỉ vẽ
cho đậm thêm đôi chân mày mỏng và điểm một chút hồng lên vành môi dưới
mà thôi. Lúc cha tôi mới rước nàng về, chúng tôi ít gặp mặt nàng vì cha tôi
hãnh diện có một hầu thiếp đẹp nên đi đâu cũng dắt nàng theo.
Tuy nhiên nàng ở nhà với chúng tôi suốt năm cuối cùng trước khi tôi
về nhà chồng. Đó là vì nàng mang thai đứa con đầu lòng: thằng bé rất dễ
thương, đẹp và bụ bẫm. Nàng bồng đứa bé đặt vào lòng cha tôi, gọi là đền
đáp lại công ơn cha tôi đã bao bọc, yêu thương nàng.
Trước khi đứa bé chào đời, tâm thần nàng bấn loạn dữ lắm, và nàng
cứ cười sằng sặc mỗi ngày. Thiên hạ ai nấy đều tấm tắc khen nhan sắc nàng,
mà quả thật tôi chưa hề thấy người đàn bà nào đẹp như nàng. Nàng mặc áo
gấm màu ngọc thạch, viền nhung đen, t
 





