THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG GIỚI THIỆU SÁCH CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 26/3
Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường Tiểu học Tứ Cường- Xã Thanh Miện- Thành phố Hải Phòng
Danh nhân đất Việt

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 10h:48' 16-11-2024
Dung lượng: 563.2 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 10h:48' 16-11-2024
Dung lượng: 563.2 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Danh Nhân Đất Việt
nhiều tác giả
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lê Văn Hưu
Vua Trần Nhân Tông
Hưng Đạo vương
Thái sư Trần Quang Khải
thi nhân trong thơ Trần Quang Khải
Trần Thái Tông
Trần Thủ Độ
Hoàng Thái Hậu ỷ Lan
Lý Thường Kiệt
Lý Công Uẩn
Lê Đại Hành
Đinh Tiên Hoàng
Ngô Quyền
Khúc Thừa Dụ
Phùng Hưng
Mai Hắc Đế
Triệu Quang Phục
Lý Bí
Bà Triệu
Hai Bà Trưng
Nguyễn Gia Thiều
Nguyễn Trường Tộ
Ngô Thì Sĩ
Lê Quý Đôn
Lê Hữu Trác
Lê Thánh Tông
Lý Nhân Tông
https://thuviensach.vn
Ngô Sĩ Liên
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Lê Thái Tổ
Nguyễn Trãi
Lý Tử Tấn
Tuệ Tĩnh
Phan Phu Tiên
Hồ Quý Ly
Trần Khát Chân
Trần Khánh Dư
Trần Nhật Duật
Chu Văn An
Nguyễn Bá Lân
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Danh Nhân Đất Việt
nhà sử học lỗi lạc
Lê Văn Hưu
L ê Văn Hưu người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay
thuộc xã Triệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa).
Theo lời các cố lão địa phương thì đất Triệu Trung vốn là trang trại của vị
tổ khai sáng dòng họ Lê - quan Trấn quốc bộc xạ Lê Lương thời Đinh Tiên
Hoàng, đến nay đã được hơn hai mươi đời. Lê Văn Hưu là ông tổ thứ bảy
của dòng họ này. Cuốn Lê thị gia phả hiện còn được bảo tồn, ghi ông sinh
năm Canh Dần (1230) là người khôi ngô tuấn tú, tư chất thông minh.
Một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê
Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Bác thợ rèn thấy chú bé
mới tí tuổi đầu đã chăm lo việc học hành, bèn ra một vế đối để thử tài:
Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi vở.
Lê Văn Hưu liền đối:
Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên.
Bác thợ rèn ngạc nhiên khen ngợi mãi rồi tặng luôn một cái dùi thật xinh,
lại kèm theo ít tiền để mua giấy bút.
Năm Đinh Mùi, Lê Văn Hưu đi thi, đỗ Bảng Nhãn. Đây là khoa thi đầu tiên
ở Việt Nam có đặt danh hiệu tam khôi (ba người đỗ đầu: Trạng Nguyên,
Bảng Nhãn, Thám Hoa). Năm ấy, ông vừa tròn 18 tuổi.
Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan (chức quan trông coi
việc hình luật), rồi Binh bộ Thượng thư, rồi Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc
sử Viện giám tu. Ông cũng là thầy học của thượng tướng Trần Quang Khải,
một trong những danh tướng của cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông.
Trong thời gian làm việc ở Quốc sử Viện, vào năm 1272, ông đã hoàn
thành việc biên soạn Đại Việt sử ký - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, ghi
lại những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời gian lịch sử dài gần 15
thế kỷ, từ Triệu Vũ đế (tức Triệu Đà 207 - 136 trước Công nguyên) (*) cho
tới Lý Chiêu Hoàng (1224 - 1225), tất cả gồm 30 quyển, được Trần Thánh
https://thuviensach.vn
Tông xuống chiếu ban khen.
Đại Việt sử ký nay không còn, nhưng vẫn có thể thấy được thấp thoáng
bóng dáng bộ quốc sử đầu tiên này trong Đại Việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ
Liên, sử thần đời Lê, người khởi đầu việc biên soạn Đại Việt sử ký toàn
thư, đã căn cứ vào Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, tiếp đó là Đại Việt sử
ký tục biên của Phan Phu Tiên để biên soạn những phần liên quan. Trong
bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, Ngô Sĩ Liên viết: "Văn Hưu là
người chép sử giỏi đời Trần, Phu Tiên là bậc cổ lão của thánh triều ta, đều
vâng chiếu biên soạn lịch sử nước nhà, tìm khắp các tài liệu còn sót lại, tập
hợp thành sách để cho người xem đời sau không có gì phải tiếc nữa, thế là
được rồi". Tiếp đó, Ngô Sĩ Liên nói rõ, ông đã đem "hai bộ sách của tiên
hiền" (tức là Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên) ra "hiệu chỉnh,
biên soạn lại, thêm vào một quyển Ngoại kỷ, thành một số quyển, gọi là
Đại Việt sử ký toàn thư". Như vậy, khó có thể phân định được đích xác đâu
là nguyên văn Đại Việt sử ký trong bộ quốc sử lớn đời Lê này. Tuy vậy, rất
may là trong Đại Việt sử ký toàn thư hiện đang lưu hành vẫn còn có 29
đoạn ghi rõ là lời văn của Lê Văn Hưu với mấy chữ " Lê Văn Hưu viết ".
Qua nhưng trích đoạn đó, có thể thấy được phần nào khuynh hướng cũng
như sắc thái ngọn bút chép sử của ông. Trân trọng công lao đánh giặc giữ
nước của Tổ tiên, ông đã nhận định về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
với những lời lẽ rất mực hào hùng: " Trưng Trắc Trưng Nhị... hô một tiếng
mà các quận Cửu Châu, Nhật Nam, Hợp Phố cùng sáu mươi nhăm thành ở
Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn
tay...". Đoạn ông ca tụng Ngô Quyền cũng thấm đượm lòng tự hào sâu sắc
trước thắng lợi huy hoàng của dân tộc: " Tiền Ngô Vương có thể lấy quân
mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng
Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám sang
nữa. Có thể nói là một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh
cũng giỏi vậy... ". Quan tâm sâu sắc đến cuộc sống của nhân dân, ông cũng
đã nghiêm khắc phê phán những hành vi bạo ngược, trái đạo lý của vua
chúa, như đoạn nhận xét về cấm lệnh " không cho con gái nhà quan lấy
chồng trước khi dự tuyển vào hậu cung" của Lý Thần Tông (1128 - 1137),
https://thuviensach.vn
chẳng hạn: "Trời sinh ra dân mà đặt vua để chăn dắt, không phải để cung
phụng riêng cho vua. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có gia thất; thánh
nhân thể lòng ấy còn sợ kẻ sát phu sát phụ không được có nơi có chốn...
Thần Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi xong việc tuyển
người vào cung rồi mới được lấy chồng, thế là để cung phụng riêng cho
mình, đâu phải là tấm lòng của người làm cha mẹ dân!".
Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng Ba năm Nhâm Tuất (1322), táng ở cánh
đồng xứ Mả Giòm (thuộc địa phận xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh
Thanh Hóa). Hiện nay ở đó vẫn còn phần mộ với tấm bia dựng năm Tự
Đức thứ 20 (1867), khắc ghi tiểu sử và một bài minh ca tụng tài đức, sự
nghiệp của ông.
Giáo sư Đặng Đức Siêu
------------------------------------
* Khoảng trước năm 179 trước Công Nguyên, Triệu Đà xâm lược nước Âu
Lạc của dân tộc Việt rồi sáp nhập vào nước Nam Việt. Lê Văn Hưu, sau đó
là các nhà sử học Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đều cho rằng Triệu Đà là
vua nước Việt, xếp "kỷ nhà Triệu" như một triều đại chính thống trong lịch
sử Đại Việt. Đây là một sự nhầm lẫn. Đến thế kỷ 18, Ngô Thì Sỹ (17261780) trong cuốn "Việt sử tiêu án" mới bác bỏ sai lầm này, khẳng định
Triệu Đà "thực chưa từng làm vua nước ta" vì "nước Việt ở miền Nam Hải,
Quế Lâm" không ở vị trí nước Việt Nam ngày nay.
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Danh Nhân Đất Việt
Anh hùng dân tộc kiêm triết gia, thi sĩ
Vua Trần Nhân Tông
T rần Nhân Tông tên làm Khẩm, con trưởng Thánh Tông, sinh năm
1258, đúng năm Thái Tông và Thánh Tông đánh tan quân xâm lược
Nguyên - Mông lần thứ nhất.
Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến người anh hùng cứu nước.
Ông làm vua 14 năm (1279 - 1293). Trong thời gian ấy, đất nước Đại Việt
đứng trước thử thách ghê gớm: hiểm họa xâm lược lần thứ 2 và thứ 3 của
giặc Nguyên-Mông.
Trong 2 lần kháng chiến, Trần Nhân Tông đã trở thành ngọn cờ "kết chặt
lòng dân", lãnh đạo quân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn, đưa cuộc
chiến đấu tới thắng lợi huy hoàng. Qua 2 cuộc kháng chiến, Trần Nhân
Tông đã tỏ rõ ông vừa là nhà chiến lược tài giỏi, vừa là vị tướng cầm quân
dũng cảm ngoài chiến trường. Chính vào giai đoạn đầu của cuộc kháng
chiến năm 1285, khi quân ta đang còn ở thế không cân sức với đối phương,
Trần Nhân Tông đã viết lên đuôi chiến thuyền 2 câu thơ đầy khí phách và
niềm tin vào sức mạnh tiềm tàng của quân ta:
Cối kê cựu sự quân tu ký,
Hoan diễn do tồn thập vạn binh.
(Cối Kê chuyện cũ ngươi nên nhớ,
Hoan Diễn đang còn chục vạn quân).
Hai câu thơ này cùng với hai câu Nhân Tông viết bên lăng Trần Thái Tông
tại Long Hưng (Thái Bình) lúc làm lễ dâng tù binh mừng chiến thắng lần
thứ ba:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
(Xã tắc hai lần lao ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.)
https://thuviensach.vn
đã đi vào lịch sử như một ký ức bất diệt về chiến công bình Nguyên năm
1285 và 1288, trong đó Nhân Tông là vị chủ soái.
Khi nhìn nhận nguyên nhân thắng lợi nhà Trần đã giành được trong sự
nghiệp cứu nước. Trần Nhân Tông đã đánh giá cao vai trò của nhân dân lao
động (thời đó sử cũ chép là gia nô, gia đồng). Ông cho rằng chính họ mới là
những người trung thành với đất nước khi có giặc ngoại xâm. Đại Việt sử
ký toàn thư chép: "Vua (Nhân Tông) ngự chơi bên ngoài, giữa đường gặp
gia đồng của các vương hầu tất gọi rõ tên mà hỏi: "Chủ mày đâu?" và dặn
dò các vệ sĩ không được thét đuổi. Khi về cung, vua bảo các quan hầu cận
rằng: "Ngày thường có kẻ hầu cận hai bên, lúc Nhà nước hoạn nạn thì chỉ
có bọn ấy đi theo thôi".
Sau 14 năm làm vua, theo truyền thống của nhà Trần, Nhân Tông nhường
ngôi cho con là Anh Tông, rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành
Tổ thứ nhất phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc
sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Xét trên bình diện triết học, Trần Nhân Tông có một vị trí quan trọng. Ông
là một triết gia lớn của Phật học Việt Nam. Với phái Thiền Trúc Lâm mà
Trần Nhân Tông là người đứng đầu, triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần
đã phát triển rực rỡ và thể hiện được đầy đủ trí tuệ Việt Nam, bản lĩnh Việt
Nam. Nét đặc trưng nổi bật của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông là tinh
thần thực tiễn, chiến đấu, táo bạo. Sách Tam Tổ thực lục viết: "Một học trò
hỏi Điều ngự Nhân Tông: "Như thế nào là Phật?" Nhân Tông đáp: "Như
cám ở dưới cối". Hoặc, một lần học trò hỏi Nhân Tông: "Lúc giết người
không để mắt thì như thế nào?" Đáp: "Khắp toàn thân là can đảm"...
Anh hùng cứu nước, triết nhân và thi sĩ, ba phẩm chất ấy kết hợp hài hòa
với nhau trong con người Trần Nhân Tông. Về phương diện thi sĩ, ông là
người có một tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, một cái nhìn tinh tế, tao
nhã, nhất là đối với cảnh vật thiên nhiên:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch đương biên,
Mục đồng địch lý ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền.
https://thuviensach.vn
(Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiền man mác có dường không,
Theo lời kèn mục trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).
(Thiên trường vãn vọng - Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Thơ Trần Nhân Tông, ngoài vẻ đẹp của một âm điệu hồn hậu, còn bao hàm
một ý vị Thiền, gợi mở một thế giới tinh thần thanh khiết. Trong lịch sử thi
ca Việt Nam, cây sáo thơ Trần Nhân Tông để lại một tiếng ngân trong đến
thẳm sâu.
Trần Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử, Đông
Triều, Quảng Ninh.
Giáo sư Đặng Đức Siêu
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Danh Nhân Đất Việt
Trần Quốc Tuấn
Hưng Đạo vương
S inh năm 1228, Trần Quốc Tuấn ra đời khi họ Trần vừa thay thế nhà
Lý làm vua trong một đất nước đói kém, loạn ly. Trần Thủ Độ, một tôn thất
tài giỏi đã xếp đặt bày mưu giữ cho thế nước chông chênh thành bền vững.
Bấy giờ Trần Cảnh còn nhỏ mới 11 tuổi, vợ là Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối
cùng của dòng họ Lý. Vì nhường ngôi cho chồng nên trăm họ và tôn thất
nhà Lý dị nghị nhà Trần cướp ngôi. Trần Thủ Độ rất lo lắng. Bấy giờ Trần
Liễu, anh ruột vua Trần Cảnh lấy công chúa Thuận Thiên, chị gái Chiêu
Hoàng đang có mang. Trần Thủ Độ ép Liễu nhường vợ cho Cảnh để chắc
có một đứa con cho Cảnh. Liễu nổi loạn. Thủ Độ dẹp tan nhưng tha chết
cho Liễu. Song điều này không dẹp nổi lòng thù hận của Liễu. Vì thế Liễu
kén thầy giỏi dạy cho con trai mình thành bậc văn võ toàn tài, ký thác vào
con mối thù sâu nặng. Người con trai ấy chính là Trần Quốc Tuấn.
Thuở nhỏ, có người đã phải khen Quốc Tuấn là bậc kỳ tài. Khi lớn lên,
Trần Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh xuất chúng, thông kim bác cổ, văn
võ song toàn. Trần Liễu thấy con như vậy mừng lắm, những mong Quốc
Tuấn có thể rửa nhục cho mình. Song, cuộc đời Trần Quốc Tuấn trải qua
một lần gia biến, ba lần quốc nạn và ông đã tỏ ra là một bậc hiền tài. Thù
nhà ông không đặt lên trên quyền lợi dân nước, xã tắc. Ông đã biết dẹp thù
riêng, vun trồng cho mối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần khiến cho nó trở
thành cội rễ của đại thắng. Bấy giờ quân Nguyên sang xâm chiếm Việt
Nam. Trần Quốc Tuấn đã giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải. Hai
người là hai đầu mối của hai chi trong họ Trần, đồng thời một người là con
Trần Liễu, một người là con Trần Cảnh, hai anh em đối đầu của thế hệ
trước. Sự hòa hợp của hai người chính là sự thống nhất ý chí của toàn bộ
vương triều Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hung hãn.
Chuyện kể rằng: thời ấy tại bến Đông, ông chủ động mời Thái sư Trần
Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ và sai nấu nước thơm tự
https://thuviensach.vn
mình tắm rửa cho Quang Khải... Rồi một lần khác, ông đem việc xích mích
trong dòng họ dò ý các con, Trần Quốc Tảng có ý khích ông cướp ngôi vua
của chi thứ, ông nổi giận định rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. Do các
con và những người tâm phúc xúm vào van xin, ông bớt giận dừng gươm
nhưng bảo rằng: Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt
thằng nghịch tử, phản thầy này nữa! Trong chiến tranh, ông luôn hộ giá bên
vua, tay chỉ cầm cây gậy bịt sắt. Thế mà vẫn có lời dị nghị, sợ ông sát vua.
Ông bèn bỏ luôn phần gậy bịt sắt, chỉ chống gậy không khi gần cận nhà
vua. Và sự nghi kỵ cũng chấm dứt. Giỏi tâm lý, chú ý từng việc nhỏ để
tránh hiềm nghi, yên lòng quan để yên lòng dân, đoàn kết mọi người vì
nghĩa lớn dân tộc. Một tấm lòng trung trinh son sắt vì vua, vì nước.
Vua giao quyền tiết chế cho Trần Quốc Tuấn. Ông biết dùng người tài như
các anh hùng Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng... đều
từ cửa tướng của ông mà ra. Ông rất thương binh lính, và họ cũng rất tin
yêu ông. Đội quân cha con ấy trở thành đội quân bách thắng.
Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng cột đá chống trời. Ông đã soạn hai bộ
binh thư: Binh thư yếu lược, và Vạn Kiếp tông bí truyền thư để dạy bảo các
tướng cách cầm quân đánh giặc. Trần Khánh Dư, một tướng giỏi cùng thời
đã hết lời ca ngợi ông :... "Lấy ngũ hành cảm ứng với nhau, cân nhắc cửu
cung, không lẫn âm dương...". Biết dĩ đoản binh chế trường trận, có nghĩa
là lấy ngắn chống dài. Khi giặc lộ rõ ý định gây hấn, Trần Quốc Tuấn
truyền lệnh cho các tướng, răn dạy chỉ bảo lẽ thắng bại tiến lui. Bản Hịch
tướng sĩ viết bằng giọng văn thống thiết hùng hồn, mang tầm tư tưởng của
một bậc "đại bút".
Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng tài có đủ tài đức. Là tướng nhân, ông
thương dân, thương quân, chỉ cho quân dân con đường sáng. Là tướng
nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi. Là tướng chí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn
đến đâu. Là tướng dũng, ông sẵn sàng xông pha vào nơi nguy hiểm để đánh
giặc, lập công, cho nên trận Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời là đại công của
ông. Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính biết theo ông thì sẽ được
gì, trái lời ông thì sẽ bị gì. Cho nên cả ba lần đánh giặc Nguyên Mông, Trần
Quốc Tuấn đều lập công lớn.
https://thuviensach.vn
Hai tháng trước khi mất, vua Anh Tông đến thăm lúc ông đang ốm, có hỏi:
- Nếu chẳng may ông mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách
làm sao?
Ông đã trăng trối những lời cuối cùng, thật thấm thía và sâu sắc cho mọi
thời đại dựng nước và giữ nước:
- Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng
sách giữ nước.
Mùa thu tháng Tám, ngày 20, năm Canh Tý, Hưng Long thứ 8 (1300)
"Bình Bắc đại nguyên soái" Hưng Đạo đại vương qua đời. Theo lời dặn lại,
thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng và chôn trong vườn An Lạc,
giữa cánh rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ, đất san
phẳng, trồng cây như cũ...
Khi ông mất (1300), vua phong ông tước Hưng Đạo đại vương. Triều đình
lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông thuở sinh thời.
Công lao sự nghiệp của ông khó kể hết . Vua coi như bậc trượng phu, trăm
họ kính trọng gọi ông là Hưng Đạo đại vương.
Trần Hưng Đạo là một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa Việt Nam.
Hà Ân - Trần Quốc Vượng
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Danh Nhân Đất Việt
Thái sư Trần Quang Khải
T rần Quang Khải sinh năm 1240, mất năm 1294, là con trai thứ ba của
vua Trần Thái Tông.
Dưới triều Trần Thánh Tông (1258 - 1278). Trần Quang Khải được phong
tước Chiêu minh đại vương. Năm 1274, ông được giao giữ chức Tướng
quốc Thái úy. Năm 1282, dưới triều Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải
được cử làm Thượng tướng Thái sư, nắm giữ quyền nội chính. Trong cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), Trần
Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai, sau Trần Quốc Tuấn, có nhiều
công lao lớn trên chiến trường.
Trong sự nghiệp quân sự của Thượng tướng Trần Quang Khải, thì trận ông
chỉ huy đánh tan quân Nguyên ở Chương Dương và Thăng Long, khôi phục
kinh thành vào cuối tháng 5-1285 "là chiến công to nhất lúc bấy giờ", như
sử sách từng ca ngợi.
Trần Quang Khải còn là một nhà ngoại giao giỏi. Năm 1281, khi nhà
Nguyên chuẩn bị xâm lược Việt Nam lần thứ hai, chúng cho Sài Thung
đem 1.000 quân đưa bọn Trần Dĩ ái về nước. Khi tới biên giới, quân
Nguyên bị nhà Trần phục đánh. Trần Dĩ ái bỏ chạy. Sài Thung được "rước"
về Thăng Long để dùng vào kế hoãn binh để có thêm thời gian chuẩn bị đối
phó với giặc. Lúc Sài Thung về Trung Quốc, Trần Quang Khải làm bài thơ
tiễn tặng rất thân, nhã, đoạn kết có câu viết:
Vị thẩm hà thời trùng đỗ diện,
Ân cần ác thủ tự huyên lương.
(Chưa biết ngày nào lại cùng gặp mặt,
Để ân cần nắm tay nhau hàn huyên).
Đối với viên sứ giả hống hách của một nước sắp tràn quân sang xâm lược,
thái độ Trần Quang Khải vẫn ung dung, niềm nở như vậy, đó cũng thể hiện
một nghệ thuật ngoại giao khôn khéo của ông và con người Việt Nam thời
https://thuviensach.vn
ấy.
Trong văn học sử Việt Nam, Trần Quang Khải là một nhà thơ có vị trí
không nhỏ. Thơ ông sáng tác có tập Lạc đạo, nay đã thất truyền, chỉ còn
lưu được một số bài. Là một vị tướng cầm quân xông pha khắp trận mạc
đánh giặc, song thơ ông lại "thanh thoát, nhàn nhã", "sâu xa, lý thú" (Phan
Huy Chú). ấy cũng là cốt cách phong thái của các vua Trần, của người Việt
Nam ngàn đời nay. Hãy đọc bản dịch bài thơ Vườn Phúc Hưng của Trần
Quang Khải để thấy rõ hơn tâm hồn ông:
Phúc Hưng một khoảnh nước bao quanh,
Vài mẫu vườn quê đất rộng thênh.
Hết tuyết chòm mai hoa trắng xóa,
Quang mây đỉnh trúc sắc tươi xanh.
Nắng lên mời khách pha trà nhấp,
Mưa lạnh sai đồng dỡ thuốc nhanh,
Báo giặc ải Nam không khói lửa,
Bên giường một giấc ngủ êm lành.
(Theo Hoàng Việt thi văn tuyển).
Tâm hồn Trần Quang Khải vừa thoáng đạt, vừa gần gũi, gắn bó với cuộc
sống bình dị của đất nước và con người:
Nhất thanh ngưu địch thanh lâu nguyệt,
Kỷ phiến nông soa bích lũng vân.
(Tiếng sáo mục đồng dưới ánh trăng bên lầu xanh, Mấy chiếc áo tơi dưới
mây trên ruộng biếc)
(Chùa Dã Thự).
Cuộc đời Trần Quang Khải là một cuộc đời sung mãn, khí phách dọc
ngang. Vào tuổi 50, Trần Quang Khải vẫn còn viết những câu thơ đầy khát
vọng anh hùng:
Linh bình đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.
(Chí khí dũng cảm lúc còn trẻ vẫn ngang tàng, hăng hái. Muốn quật ngã
https://thuviensach.vn
ngọn gió đông, ngâm vang một bài thơ).
Ngoài bài Tụng giá hoàn kinh sứ, Lưu Gia độ (Bến đò Lưu Gia) cũng là
một bài thơ nổi tiếng của Trần Quang Khải, có thể xếp vào trong số những
bài thơ hay của thơ cổ Việt Nam.
Lưu Gia độ khẩu thụ tham thiên,
Hỗ tụng đông hành tích bạc thuyền.
Cựu tháp giang đình lưu thủy thượng,
Hoang tử cổ trùng thạch lân tiền.
Thái bình đồ chí kỷ thiên lý,
Lý đại quan hà nhị bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.
(Bến đò Lưu Gia cây cao ngất trời,
Xưa phò giá sang đông từng đỗ thuyền nơi đây.
Tháp cũ, đình xưa dựng trên sông thu,
Đền hoang, mộ cổ trước mấy con lân đá.
Bản đồ thái bình ghi mấy ngàn dặm,
Non sông nhà Lý trải hai trăm năm.
Khách thơ nay trở lại đầu đã bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống sông trong).
Những vần thơ Trần Quang Khải để lại là những ánh hào quang, ghi dấu ấn
của một sự nghiệp lớn trong cuộc đời vị Thượng tướng nhà Trần - vừa làm
thơ, vừa đánh giặc.
Hà Ân - Trần Quốc Vượng
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Danh Nhân Đất Việt
Người anh hùng
thi nhân trong thơ Trần Quang Khải
T rần Quang Khải, tự Chiêu Minh, sinh vào mùa đông năm Tân Sửu
(1241), là con trai thứ ba Trần Cảnh (Trần Thái Tông). Dưới triều Trần
Thánh Tông, ông giữ chức Tướng quốc thái úy, tước Đại vương; được
thăng chức Thượng tướng Thái sư dưới triều vua Nhân Tông. Cùng với
Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải cũng là một nhân vật trọng yếu của
vương triều, đã đóng góp nhiều công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ
nước, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông
(1284 - 1288), ông đã tham gia trận phản công lớn, đánh tan quân giặc ở
Hàm Tử và Chương Dương, giải phóng Thăng Long.
Trần Quang Khải là người học rộng, biết nhiều, văn võ song toàn, ngoài ra
ông còn là một nhà ngoại giao, nhà thơ có tài.
Trong số các thi sĩ - chính khách thời Trần, Trần Quang Khải có lẽ là người
để lại cho người đọc một ấn tượng tươi tắn mà sâu đậm. Trước hết, tuy chỉ
còn lại vẻn vẹn có 10 bài thơ thôi (Trong 10 bài thơ này thì có một bài Đề
đền Bạch Mã, chỉ được chép trong Việt điện u linh tập, một bài Hạ Hồ
Thành trúng Trạng nguyên, e không đúng, và một bài Đề dã thự trùng với
bài Tĩnh Bang cảnh vật của Trần Tung trong Thượng Sĩ ngữ lục. Điều kiện
tư liệu hiện nay chưa cho phép khẳng định dứt khoát vấn đề tác giả đích
thực của các bài đó), song, thơ ông bài nào cũng mang cốt cách khoáng đạt
của một thi nhân cỡ lớn. Trần Quang Khải có làm thơ xã giao thù tạc cũng
là cái thù tạc không cần phải gắng gượng hay khách sáo, mà trái lại dung
dị, tự nhiên, hiếm người có được:
Nhất đàm tiếu khoảnh ta phân quệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sàng.
(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh) (Tức Sài Thung)
(Vừa nói cười đó mà thoắt đã ngậm ngùi dứt áo,
Tiếc những lúc hai giường đối diện, xướng họa cùng nhau).
https://thuviensach.vn
Và Trần Quang Khải có ngắm nhìn đồng quê trong tư cách một vị chủ nhân
trang trại thì vẫn là cái nhìn đột xuất, tình tứ khác thường:
Dã thự tân khai, cảnh vật tân,
Phương phi đào lý, tứ thời xuân.
Nhất thanh ngư địch, thanh lâu nguyệt,
Kỷ phiến nông thoa, bích lũng vân.
(Đề dã thự)
(Trang trại mới mở, cảnh vật thật mới mẻ,
Đào mận tốt tươi, xuân suốt cả bốn mùa.
Một tiếng sáo trẻ chăn trâu, xanh thêm mặt trăng trên lầu,
Vài tấm áo tơi nông phu, biếc hẳn đám mây dưới lũng).
Sau nữa, ấn tượng tươi tắn của chúng ta đối với Trần Quang Khải - thi nhân
còn ở chỗ, ta biết tác giả những vần thơ khoáng đạt này là một vị Thái sư
Thượng tướng, cùng với Trần Quốc Tuấn là hai nhân vật đứng đầu hàng
văn và hàng võ, đã từng góp nhiều công lao hiển hách vào công cuộc dựng
nước và giữ nước đời Trần. Là con trai thứ ba vua Trần Thái Tông, em ruột
Trần Thánh Tông, sinh năm 1241 và mất năm 1294, với tước Chiêu Minh
vương, Trần Quang Khải đã thực sự đóng một vai trò chủ chốt trong triều
chính nhà Trần suốt nhiều năm tháng, kể từ khoảng mươi năm sau cuộc
kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất (1258). Ròng rã gần hai thập niên
tạm gọi là hòa bình mà kỳ thực là chuẩn bị lực lượng rất khẩn trương ấy,
với cương vị một ông quan đầu triều, Trần Quang Khải đã ra sức chèo
chống về nội trị, ngoại giao, đưa vương triều Trần vượt qua nhiều thử
thách, nhất là những cuộc đấu trí mệt nhọc, căng thẳng với đám sứ giả
Nguyên Mông. Những bài thơ ông làm trong các dịp này cũng giống như
những bài thơ tiếp sứ của Trần Nhân Tông và nhiều người khác, có cái
mềm mỏng, nhún nhường về lời lẽ, nó là một sách lược nhất quán trong
quan hệ nhiều đời giữa nước ta với các đế chế phương Bắc vốn luôn luôn tự
thị vào cái "lớn", cái "khỏe" của mình:
Khẩu hàm uy phúc quân bao biếm,
Thân bội an nguy quốc trọng khinh.
https://thuviensach.vn
Cảm chúc tứ hiền quân phiếm ái,
Hảo vi noãn dực Việt thương sinh.
(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đẳng).
(Miệng nói lời oai phúc thay vua mà khen chê,
Thân mang theo sự an nguy quan hệ đến việc lớn nhỏ của nước nhà.
Dám xin cầu chúc bốn vị sứ giả hiền tài có lòng yêu thương rộng lớn,
Ra sức che chở cho con dân nước Việt).
Nhưng hết sức mềm mỏng đấy - và có thể không kém thân tình nữa kia đấy
- mà vẫn giữ được hiên ngang cứng cỏi sau từng chữ từng câu, nó là cái tư
thế bình đẳng của chủ đối với khách, cái phong thái đàng hoàng của những
con người luôn luôn tự chủ được mình:
Tống quân quy khứ độc bàng hoàng,
Mã thủ xâm xâm chỉ đế hương.
Nam Bắc tâm linh huyền phản bái,
Chủ tân đạo vị phiếm ly trường.
Nhất đàm tiếu khoảnh, ta phân quệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sáng.
Vị thẩm hà thời trùng đổ diện,
Ân cần ác thủ tự huyên lương.
(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh)
(Tiễn ông ra về, mình tôi luống những bâng khuâng,
Ngựa xăm xăm hướng về nẻo quê hương nhà vua.
Nỗi lòng Nam Bắc lưu luyến trên ngọn cờ người ra đi,
Tình chủ khách dạt dào trong chén rượu giã biệt.
Vừa nói cười đó mà thoắt đã ngậm ngùi dứt áo,
Tiếc những lúc hai giường đối diện, xướng họa cùng nhau.
Biết bao giờ lại được gặp mặt,
Để nắm tay ân cần kể nỗi hàn huyên).
Thế rồi, khi tình thế xã tắc không còn tài nào ngăn được cuộc xâm lăng ào
ạt của lũ giặc Mông Thát, Trần Quang Khải lập tức cởi áo phòng văn,
khoác áo tướng sĩ, dẫn đầu một đạo quân, ra đi. Và cứ thế, dưới quyền tiết
https://thuviensach.vn
chế của quốc công Trần Quốc Tuấn, ông xông pha trận mạc khắp nơi, hết
Nghệ An ra Thăng Long, lại đi các trấn phía bắc... cho đến ngày toàn thắng.
Cái tấm lòng hăng hái bất kỳ việc gì cũng không từ nan, cũng thung dung
nhận lấy và làm hết mình đó, Trần Quang Khải giữ được cho mãi đến già.
Và cái nét dung dị mà khoáng đạt, hào hùng trong con người ông cũng vậy,
vẫn là một cốt tính đặc sắc làm trẻ trung mãi ngòi bút của nhà thơ. Bài thơ
Cảm xuân có lẽ làm ít lâu trước lúc mất là biểu hiện kết hợp cả hai mặt
khoáng đạt và hăng hái nói trên.
Vũ bạch phì mai tế nhược ti,
Bế môn ngột ngột tọa thư si.
Bán phần xuân sắc nhàn sai quá,
Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.
Cố quốc tâm tùy phi điểu quyện,
Ân ba hải khoát túng lân trì.
Sinh bình đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.
(Cảm xuân, I)
(Lâm râm mưa bụi gội hoa mai,
Khép chặt phòng thơ ngất ngưởng ngồi.
Già nửa phần xuân cam bỏ uổng,
Tới năm chục tuổi biết suy rồi.
Mơ màng nước cũ chim bay mỏi,
Khơi thẳm nguồn ân, cá khó bơi.
Đảm khí ngày nào rày vẫn đó,
Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi!)
(Ngô Tất Tố dịch)
Bài thơ gợi một cảm xúc thực man mác, bâng khuâng! Trước mặt người
đọc hiện ra hai con người: một người thơ và một anh hùng. Người thơ ngồi
lặng trong phòng như si như ngây, suy tưởng mênh mang về đất nước, về
tuổi trẻ và những tháng năm đã trôi vào dĩ vãng; còn người anh hùng thì
luôn luôn tỉnh táo, nghiêm trang canh giữ xã tắc trong bao nhiêu năm
không lúc nào lơi lỏng, và vẫn chờ đợi với tấm lòng hăng hái những nhiệm
https://thuviensach.vn
vụ hệ trọng mà xã tắc phó thác cho mình! Tưởng chừng hai con người là
hai nhân vật khác hẳn nhau, đồng hành trên suốt một chặng đường dài...
vừa chẵn năm mươi năm. Nhưng nào đâu có phải! Phải nói, có được cái mê
si đầy khoái cảm của chàng thi nhân kia - mê si trong khung cảnh yên bình,
nhàn nhã của đất nước - cũng là nhờ cái tỉnh táo trường kỳ, không biết mệt
mỏi của người tráng sĩ nọ, và quả tình là ở phần cuối bài thơ, cả anh hùng
và thi nhân đều đã nhập trở lại trong một hình tượng nhất trí. Cảm hứng của
người thơ có vẻ như lâng lâng, dàn trải ở phần đầu, đến đây cũng được xác
định lại cụ thể, là niềm hứng khởi, là ý thức sắc bén trước nhiệm vụ đối với
đất nước, đúng y như cảm hứng của anh hùng:
Sinh bình đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.
(Chí khí dũng lược lúc bình sinh hãy còn hăng hái,
Muốn quật ngã gió đông mà ngâm lên một bài thơ).
Như vậy, nền tảng của sự thống nhất giữa hai con người trong thơ Trần
Quang Khải chính là sức mạnh và yêu cầu thường trực về sự vững mạnh
của xã tắc giang sơn; nhờ có nó người ta nhận thức được rằng mình vẫn còn
và tất yếu phải còn nguyên "đởm khí" - dồi dào sức trẻ. Cũng nhờ có nó,
mặt khác, người ta lại cảm thấy cái hạnh phúc được sống và quên bẵng
rằng mình đang sống, nghĩa là được thoải mái đắm mình theo nhịp trôi
chảy của thời gian, để rồi đôi khi nhìn lại mà bỗng thốt giật mình.
Sự thống nhất giữa người thơ và anh hùng trong thơ Trần Quang Khải còn
là sự thống nhất giữa hai bình diện khác nhau của cùng một con người Việt
Nam ở thời đại Lý - Trần: con người biết mê mải vui say trong nhiều niềm
vui của cuộc sống đang lên, và ngược lại, cũng biết tự cảnh giác với mọi
đam mê vô ích, để nhân sức mạnh của mình lên mà tỉnh táo chống trả với
mọi kẻ thù đang dòm ngó sơn hà xã tắc.
Con người đó, ngay trước khi bước vào giấc ngủ cũng đã mở to con mắt:
"đề phòng" dõi nhìn về những miền biên giới thân yêu:
Nam vọng lang yên vô phục khởi,
Đồi nhiên nhất tháp, mộng thiên an.
https://thuviensach.vn
(Phúc Hưng viên)
(Trông về Nam khói lửa không còn tái diễn,
Trên giường nằm ngủ yên tâm trong giấc mộng).
Con người đó, giữa lúc chuếnh choáng vài chén giải khuây vẫn không quên
phận sự, trái lại, còn biết nâng cao tấm lòng tráng chí: "Vỗ thanh gươm cũ
nhớ non xưa", làm cho sự giải khuây tăng thêm phần ý nghĩa:
Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,
Phủ kiếm du du ức cố sơn.
(Cảm xuân, II)
(Tiêu khiển nay nhờ ba chén rượu,
Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa)
(Ngô Tất Tố dịch)
Và con người đó, khi soi bóng trên dòng sông mà mặc cảm về mái tóc bạc
trắng, cũng vẫn giữ được niềm lạc quan thanh thản, vì biết tin vào lịch sử
trường tồn của đất nước, nó là cái bảo đảm vững chắc nhất cho những gì
còn lại của cá nhân mình và sự nghiệp của mình:
Thái bình đồ chí kỷ thiên lý,
Lá đại quan hà nhị bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.
(Lưu Gia Độ)
(Cơ đồ đất nước lúc thái bình rộng mấy nghìn dặm,
Non sông nhà Lý trải hai trăm năm.
Khách thơ trở lại đây đầu đã bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống lòng sông buổi trời tạnh).
Từ một con người đặc sắc nhiều mặt như thế, Trần Quang Khải đã để lại rất
nhiều mối cảm tình cho người đọc thơ ông. Có thể nói, chân dung một Trần
Quang Khải nhà thơ đã hòa quyện với chân dung một Trần Quang Khải ở
trong sử sách, cũng như một Trần Quang Khải ở trong sử sách, đã làm giàu
thêm sức sống và thi liệu cho một Trần Quang Khải trong thơ. ấn tượng sâu
https://thuviensach.vn
sắc của người đọ...
Danh Nhân Đất Việt
nhiều tác giả
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lê Văn Hưu
Vua Trần Nhân Tông
Hưng Đạo vương
Thái sư Trần Quang Khải
thi nhân trong thơ Trần Quang Khải
Trần Thái Tông
Trần Thủ Độ
Hoàng Thái Hậu ỷ Lan
Lý Thường Kiệt
Lý Công Uẩn
Lê Đại Hành
Đinh Tiên Hoàng
Ngô Quyền
Khúc Thừa Dụ
Phùng Hưng
Mai Hắc Đế
Triệu Quang Phục
Lý Bí
Bà Triệu
Hai Bà Trưng
Nguyễn Gia Thiều
Nguyễn Trường Tộ
Ngô Thì Sĩ
Lê Quý Đôn
Lê Hữu Trác
Lê Thánh Tông
Lý Nhân Tông
https://thuviensach.vn
Ngô Sĩ Liên
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Lê Thái Tổ
Nguyễn Trãi
Lý Tử Tấn
Tuệ Tĩnh
Phan Phu Tiên
Hồ Quý Ly
Trần Khát Chân
Trần Khánh Dư
Trần Nhật Duật
Chu Văn An
Nguyễn Bá Lân
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Danh Nhân Đất Việt
nhà sử học lỗi lạc
Lê Văn Hưu
L ê Văn Hưu người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay
thuộc xã Triệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa).
Theo lời các cố lão địa phương thì đất Triệu Trung vốn là trang trại của vị
tổ khai sáng dòng họ Lê - quan Trấn quốc bộc xạ Lê Lương thời Đinh Tiên
Hoàng, đến nay đã được hơn hai mươi đời. Lê Văn Hưu là ông tổ thứ bảy
của dòng họ này. Cuốn Lê thị gia phả hiện còn được bảo tồn, ghi ông sinh
năm Canh Dần (1230) là người khôi ngô tuấn tú, tư chất thông minh.
Một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê
Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Bác thợ rèn thấy chú bé
mới tí tuổi đầu đã chăm lo việc học hành, bèn ra một vế đối để thử tài:
Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi vở.
Lê Văn Hưu liền đối:
Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên.
Bác thợ rèn ngạc nhiên khen ngợi mãi rồi tặng luôn một cái dùi thật xinh,
lại kèm theo ít tiền để mua giấy bút.
Năm Đinh Mùi, Lê Văn Hưu đi thi, đỗ Bảng Nhãn. Đây là khoa thi đầu tiên
ở Việt Nam có đặt danh hiệu tam khôi (ba người đỗ đầu: Trạng Nguyên,
Bảng Nhãn, Thám Hoa). Năm ấy, ông vừa tròn 18 tuổi.
Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan (chức quan trông coi
việc hình luật), rồi Binh bộ Thượng thư, rồi Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc
sử Viện giám tu. Ông cũng là thầy học của thượng tướng Trần Quang Khải,
một trong những danh tướng của cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông.
Trong thời gian làm việc ở Quốc sử Viện, vào năm 1272, ông đã hoàn
thành việc biên soạn Đại Việt sử ký - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, ghi
lại những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời gian lịch sử dài gần 15
thế kỷ, từ Triệu Vũ đế (tức Triệu Đà 207 - 136 trước Công nguyên) (*) cho
tới Lý Chiêu Hoàng (1224 - 1225), tất cả gồm 30 quyển, được Trần Thánh
https://thuviensach.vn
Tông xuống chiếu ban khen.
Đại Việt sử ký nay không còn, nhưng vẫn có thể thấy được thấp thoáng
bóng dáng bộ quốc sử đầu tiên này trong Đại Việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ
Liên, sử thần đời Lê, người khởi đầu việc biên soạn Đại Việt sử ký toàn
thư, đã căn cứ vào Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, tiếp đó là Đại Việt sử
ký tục biên của Phan Phu Tiên để biên soạn những phần liên quan. Trong
bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, Ngô Sĩ Liên viết: "Văn Hưu là
người chép sử giỏi đời Trần, Phu Tiên là bậc cổ lão của thánh triều ta, đều
vâng chiếu biên soạn lịch sử nước nhà, tìm khắp các tài liệu còn sót lại, tập
hợp thành sách để cho người xem đời sau không có gì phải tiếc nữa, thế là
được rồi". Tiếp đó, Ngô Sĩ Liên nói rõ, ông đã đem "hai bộ sách của tiên
hiền" (tức là Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên) ra "hiệu chỉnh,
biên soạn lại, thêm vào một quyển Ngoại kỷ, thành một số quyển, gọi là
Đại Việt sử ký toàn thư". Như vậy, khó có thể phân định được đích xác đâu
là nguyên văn Đại Việt sử ký trong bộ quốc sử lớn đời Lê này. Tuy vậy, rất
may là trong Đại Việt sử ký toàn thư hiện đang lưu hành vẫn còn có 29
đoạn ghi rõ là lời văn của Lê Văn Hưu với mấy chữ " Lê Văn Hưu viết ".
Qua nhưng trích đoạn đó, có thể thấy được phần nào khuynh hướng cũng
như sắc thái ngọn bút chép sử của ông. Trân trọng công lao đánh giặc giữ
nước của Tổ tiên, ông đã nhận định về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
với những lời lẽ rất mực hào hùng: " Trưng Trắc Trưng Nhị... hô một tiếng
mà các quận Cửu Châu, Nhật Nam, Hợp Phố cùng sáu mươi nhăm thành ở
Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn
tay...". Đoạn ông ca tụng Ngô Quyền cũng thấm đượm lòng tự hào sâu sắc
trước thắng lợi huy hoàng của dân tộc: " Tiền Ngô Vương có thể lấy quân
mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng
Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám sang
nữa. Có thể nói là một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh
cũng giỏi vậy... ". Quan tâm sâu sắc đến cuộc sống của nhân dân, ông cũng
đã nghiêm khắc phê phán những hành vi bạo ngược, trái đạo lý của vua
chúa, như đoạn nhận xét về cấm lệnh " không cho con gái nhà quan lấy
chồng trước khi dự tuyển vào hậu cung" của Lý Thần Tông (1128 - 1137),
https://thuviensach.vn
chẳng hạn: "Trời sinh ra dân mà đặt vua để chăn dắt, không phải để cung
phụng riêng cho vua. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có gia thất; thánh
nhân thể lòng ấy còn sợ kẻ sát phu sát phụ không được có nơi có chốn...
Thần Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi xong việc tuyển
người vào cung rồi mới được lấy chồng, thế là để cung phụng riêng cho
mình, đâu phải là tấm lòng của người làm cha mẹ dân!".
Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng Ba năm Nhâm Tuất (1322), táng ở cánh
đồng xứ Mả Giòm (thuộc địa phận xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh
Thanh Hóa). Hiện nay ở đó vẫn còn phần mộ với tấm bia dựng năm Tự
Đức thứ 20 (1867), khắc ghi tiểu sử và một bài minh ca tụng tài đức, sự
nghiệp của ông.
Giáo sư Đặng Đức Siêu
------------------------------------
* Khoảng trước năm 179 trước Công Nguyên, Triệu Đà xâm lược nước Âu
Lạc của dân tộc Việt rồi sáp nhập vào nước Nam Việt. Lê Văn Hưu, sau đó
là các nhà sử học Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đều cho rằng Triệu Đà là
vua nước Việt, xếp "kỷ nhà Triệu" như một triều đại chính thống trong lịch
sử Đại Việt. Đây là một sự nhầm lẫn. Đến thế kỷ 18, Ngô Thì Sỹ (17261780) trong cuốn "Việt sử tiêu án" mới bác bỏ sai lầm này, khẳng định
Triệu Đà "thực chưa từng làm vua nước ta" vì "nước Việt ở miền Nam Hải,
Quế Lâm" không ở vị trí nước Việt Nam ngày nay.
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Danh Nhân Đất Việt
Anh hùng dân tộc kiêm triết gia, thi sĩ
Vua Trần Nhân Tông
T rần Nhân Tông tên làm Khẩm, con trưởng Thánh Tông, sinh năm
1258, đúng năm Thái Tông và Thánh Tông đánh tan quân xâm lược
Nguyên - Mông lần thứ nhất.
Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến người anh hùng cứu nước.
Ông làm vua 14 năm (1279 - 1293). Trong thời gian ấy, đất nước Đại Việt
đứng trước thử thách ghê gớm: hiểm họa xâm lược lần thứ 2 và thứ 3 của
giặc Nguyên-Mông.
Trong 2 lần kháng chiến, Trần Nhân Tông đã trở thành ngọn cờ "kết chặt
lòng dân", lãnh đạo quân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn, đưa cuộc
chiến đấu tới thắng lợi huy hoàng. Qua 2 cuộc kháng chiến, Trần Nhân
Tông đã tỏ rõ ông vừa là nhà chiến lược tài giỏi, vừa là vị tướng cầm quân
dũng cảm ngoài chiến trường. Chính vào giai đoạn đầu của cuộc kháng
chiến năm 1285, khi quân ta đang còn ở thế không cân sức với đối phương,
Trần Nhân Tông đã viết lên đuôi chiến thuyền 2 câu thơ đầy khí phách và
niềm tin vào sức mạnh tiềm tàng của quân ta:
Cối kê cựu sự quân tu ký,
Hoan diễn do tồn thập vạn binh.
(Cối Kê chuyện cũ ngươi nên nhớ,
Hoan Diễn đang còn chục vạn quân).
Hai câu thơ này cùng với hai câu Nhân Tông viết bên lăng Trần Thái Tông
tại Long Hưng (Thái Bình) lúc làm lễ dâng tù binh mừng chiến thắng lần
thứ ba:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
(Xã tắc hai lần lao ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.)
https://thuviensach.vn
đã đi vào lịch sử như một ký ức bất diệt về chiến công bình Nguyên năm
1285 và 1288, trong đó Nhân Tông là vị chủ soái.
Khi nhìn nhận nguyên nhân thắng lợi nhà Trần đã giành được trong sự
nghiệp cứu nước. Trần Nhân Tông đã đánh giá cao vai trò của nhân dân lao
động (thời đó sử cũ chép là gia nô, gia đồng). Ông cho rằng chính họ mới là
những người trung thành với đất nước khi có giặc ngoại xâm. Đại Việt sử
ký toàn thư chép: "Vua (Nhân Tông) ngự chơi bên ngoài, giữa đường gặp
gia đồng của các vương hầu tất gọi rõ tên mà hỏi: "Chủ mày đâu?" và dặn
dò các vệ sĩ không được thét đuổi. Khi về cung, vua bảo các quan hầu cận
rằng: "Ngày thường có kẻ hầu cận hai bên, lúc Nhà nước hoạn nạn thì chỉ
có bọn ấy đi theo thôi".
Sau 14 năm làm vua, theo truyền thống của nhà Trần, Nhân Tông nhường
ngôi cho con là Anh Tông, rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành
Tổ thứ nhất phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc
sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Xét trên bình diện triết học, Trần Nhân Tông có một vị trí quan trọng. Ông
là một triết gia lớn của Phật học Việt Nam. Với phái Thiền Trúc Lâm mà
Trần Nhân Tông là người đứng đầu, triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần
đã phát triển rực rỡ và thể hiện được đầy đủ trí tuệ Việt Nam, bản lĩnh Việt
Nam. Nét đặc trưng nổi bật của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông là tinh
thần thực tiễn, chiến đấu, táo bạo. Sách Tam Tổ thực lục viết: "Một học trò
hỏi Điều ngự Nhân Tông: "Như thế nào là Phật?" Nhân Tông đáp: "Như
cám ở dưới cối". Hoặc, một lần học trò hỏi Nhân Tông: "Lúc giết người
không để mắt thì như thế nào?" Đáp: "Khắp toàn thân là can đảm"...
Anh hùng cứu nước, triết nhân và thi sĩ, ba phẩm chất ấy kết hợp hài hòa
với nhau trong con người Trần Nhân Tông. Về phương diện thi sĩ, ông là
người có một tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, một cái nhìn tinh tế, tao
nhã, nhất là đối với cảnh vật thiên nhiên:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch đương biên,
Mục đồng địch lý ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền.
https://thuviensach.vn
(Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiền man mác có dường không,
Theo lời kèn mục trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).
(Thiên trường vãn vọng - Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Thơ Trần Nhân Tông, ngoài vẻ đẹp của một âm điệu hồn hậu, còn bao hàm
một ý vị Thiền, gợi mở một thế giới tinh thần thanh khiết. Trong lịch sử thi
ca Việt Nam, cây sáo thơ Trần Nhân Tông để lại một tiếng ngân trong đến
thẳm sâu.
Trần Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử, Đông
Triều, Quảng Ninh.
Giáo sư Đặng Đức Siêu
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Danh Nhân Đất Việt
Trần Quốc Tuấn
Hưng Đạo vương
S inh năm 1228, Trần Quốc Tuấn ra đời khi họ Trần vừa thay thế nhà
Lý làm vua trong một đất nước đói kém, loạn ly. Trần Thủ Độ, một tôn thất
tài giỏi đã xếp đặt bày mưu giữ cho thế nước chông chênh thành bền vững.
Bấy giờ Trần Cảnh còn nhỏ mới 11 tuổi, vợ là Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối
cùng của dòng họ Lý. Vì nhường ngôi cho chồng nên trăm họ và tôn thất
nhà Lý dị nghị nhà Trần cướp ngôi. Trần Thủ Độ rất lo lắng. Bấy giờ Trần
Liễu, anh ruột vua Trần Cảnh lấy công chúa Thuận Thiên, chị gái Chiêu
Hoàng đang có mang. Trần Thủ Độ ép Liễu nhường vợ cho Cảnh để chắc
có một đứa con cho Cảnh. Liễu nổi loạn. Thủ Độ dẹp tan nhưng tha chết
cho Liễu. Song điều này không dẹp nổi lòng thù hận của Liễu. Vì thế Liễu
kén thầy giỏi dạy cho con trai mình thành bậc văn võ toàn tài, ký thác vào
con mối thù sâu nặng. Người con trai ấy chính là Trần Quốc Tuấn.
Thuở nhỏ, có người đã phải khen Quốc Tuấn là bậc kỳ tài. Khi lớn lên,
Trần Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh xuất chúng, thông kim bác cổ, văn
võ song toàn. Trần Liễu thấy con như vậy mừng lắm, những mong Quốc
Tuấn có thể rửa nhục cho mình. Song, cuộc đời Trần Quốc Tuấn trải qua
một lần gia biến, ba lần quốc nạn và ông đã tỏ ra là một bậc hiền tài. Thù
nhà ông không đặt lên trên quyền lợi dân nước, xã tắc. Ông đã biết dẹp thù
riêng, vun trồng cho mối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần khiến cho nó trở
thành cội rễ của đại thắng. Bấy giờ quân Nguyên sang xâm chiếm Việt
Nam. Trần Quốc Tuấn đã giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải. Hai
người là hai đầu mối của hai chi trong họ Trần, đồng thời một người là con
Trần Liễu, một người là con Trần Cảnh, hai anh em đối đầu của thế hệ
trước. Sự hòa hợp của hai người chính là sự thống nhất ý chí của toàn bộ
vương triều Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hung hãn.
Chuyện kể rằng: thời ấy tại bến Đông, ông chủ động mời Thái sư Trần
Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ và sai nấu nước thơm tự
https://thuviensach.vn
mình tắm rửa cho Quang Khải... Rồi một lần khác, ông đem việc xích mích
trong dòng họ dò ý các con, Trần Quốc Tảng có ý khích ông cướp ngôi vua
của chi thứ, ông nổi giận định rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. Do các
con và những người tâm phúc xúm vào van xin, ông bớt giận dừng gươm
nhưng bảo rằng: Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt
thằng nghịch tử, phản thầy này nữa! Trong chiến tranh, ông luôn hộ giá bên
vua, tay chỉ cầm cây gậy bịt sắt. Thế mà vẫn có lời dị nghị, sợ ông sát vua.
Ông bèn bỏ luôn phần gậy bịt sắt, chỉ chống gậy không khi gần cận nhà
vua. Và sự nghi kỵ cũng chấm dứt. Giỏi tâm lý, chú ý từng việc nhỏ để
tránh hiềm nghi, yên lòng quan để yên lòng dân, đoàn kết mọi người vì
nghĩa lớn dân tộc. Một tấm lòng trung trinh son sắt vì vua, vì nước.
Vua giao quyền tiết chế cho Trần Quốc Tuấn. Ông biết dùng người tài như
các anh hùng Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng... đều
từ cửa tướng của ông mà ra. Ông rất thương binh lính, và họ cũng rất tin
yêu ông. Đội quân cha con ấy trở thành đội quân bách thắng.
Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng cột đá chống trời. Ông đã soạn hai bộ
binh thư: Binh thư yếu lược, và Vạn Kiếp tông bí truyền thư để dạy bảo các
tướng cách cầm quân đánh giặc. Trần Khánh Dư, một tướng giỏi cùng thời
đã hết lời ca ngợi ông :... "Lấy ngũ hành cảm ứng với nhau, cân nhắc cửu
cung, không lẫn âm dương...". Biết dĩ đoản binh chế trường trận, có nghĩa
là lấy ngắn chống dài. Khi giặc lộ rõ ý định gây hấn, Trần Quốc Tuấn
truyền lệnh cho các tướng, răn dạy chỉ bảo lẽ thắng bại tiến lui. Bản Hịch
tướng sĩ viết bằng giọng văn thống thiết hùng hồn, mang tầm tư tưởng của
một bậc "đại bút".
Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng tài có đủ tài đức. Là tướng nhân, ông
thương dân, thương quân, chỉ cho quân dân con đường sáng. Là tướng
nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi. Là tướng chí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn
đến đâu. Là tướng dũng, ông sẵn sàng xông pha vào nơi nguy hiểm để đánh
giặc, lập công, cho nên trận Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời là đại công của
ông. Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính biết theo ông thì sẽ được
gì, trái lời ông thì sẽ bị gì. Cho nên cả ba lần đánh giặc Nguyên Mông, Trần
Quốc Tuấn đều lập công lớn.
https://thuviensach.vn
Hai tháng trước khi mất, vua Anh Tông đến thăm lúc ông đang ốm, có hỏi:
- Nếu chẳng may ông mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách
làm sao?
Ông đã trăng trối những lời cuối cùng, thật thấm thía và sâu sắc cho mọi
thời đại dựng nước và giữ nước:
- Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng
sách giữ nước.
Mùa thu tháng Tám, ngày 20, năm Canh Tý, Hưng Long thứ 8 (1300)
"Bình Bắc đại nguyên soái" Hưng Đạo đại vương qua đời. Theo lời dặn lại,
thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng và chôn trong vườn An Lạc,
giữa cánh rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ, đất san
phẳng, trồng cây như cũ...
Khi ông mất (1300), vua phong ông tước Hưng Đạo đại vương. Triều đình
lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông thuở sinh thời.
Công lao sự nghiệp của ông khó kể hết . Vua coi như bậc trượng phu, trăm
họ kính trọng gọi ông là Hưng Đạo đại vương.
Trần Hưng Đạo là một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa Việt Nam.
Hà Ân - Trần Quốc Vượng
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Danh Nhân Đất Việt
Thái sư Trần Quang Khải
T rần Quang Khải sinh năm 1240, mất năm 1294, là con trai thứ ba của
vua Trần Thái Tông.
Dưới triều Trần Thánh Tông (1258 - 1278). Trần Quang Khải được phong
tước Chiêu minh đại vương. Năm 1274, ông được giao giữ chức Tướng
quốc Thái úy. Năm 1282, dưới triều Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải
được cử làm Thượng tướng Thái sư, nắm giữ quyền nội chính. Trong cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), Trần
Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai, sau Trần Quốc Tuấn, có nhiều
công lao lớn trên chiến trường.
Trong sự nghiệp quân sự của Thượng tướng Trần Quang Khải, thì trận ông
chỉ huy đánh tan quân Nguyên ở Chương Dương và Thăng Long, khôi phục
kinh thành vào cuối tháng 5-1285 "là chiến công to nhất lúc bấy giờ", như
sử sách từng ca ngợi.
Trần Quang Khải còn là một nhà ngoại giao giỏi. Năm 1281, khi nhà
Nguyên chuẩn bị xâm lược Việt Nam lần thứ hai, chúng cho Sài Thung
đem 1.000 quân đưa bọn Trần Dĩ ái về nước. Khi tới biên giới, quân
Nguyên bị nhà Trần phục đánh. Trần Dĩ ái bỏ chạy. Sài Thung được "rước"
về Thăng Long để dùng vào kế hoãn binh để có thêm thời gian chuẩn bị đối
phó với giặc. Lúc Sài Thung về Trung Quốc, Trần Quang Khải làm bài thơ
tiễn tặng rất thân, nhã, đoạn kết có câu viết:
Vị thẩm hà thời trùng đỗ diện,
Ân cần ác thủ tự huyên lương.
(Chưa biết ngày nào lại cùng gặp mặt,
Để ân cần nắm tay nhau hàn huyên).
Đối với viên sứ giả hống hách của một nước sắp tràn quân sang xâm lược,
thái độ Trần Quang Khải vẫn ung dung, niềm nở như vậy, đó cũng thể hiện
một nghệ thuật ngoại giao khôn khéo của ông và con người Việt Nam thời
https://thuviensach.vn
ấy.
Trong văn học sử Việt Nam, Trần Quang Khải là một nhà thơ có vị trí
không nhỏ. Thơ ông sáng tác có tập Lạc đạo, nay đã thất truyền, chỉ còn
lưu được một số bài. Là một vị tướng cầm quân xông pha khắp trận mạc
đánh giặc, song thơ ông lại "thanh thoát, nhàn nhã", "sâu xa, lý thú" (Phan
Huy Chú). ấy cũng là cốt cách phong thái của các vua Trần, của người Việt
Nam ngàn đời nay. Hãy đọc bản dịch bài thơ Vườn Phúc Hưng của Trần
Quang Khải để thấy rõ hơn tâm hồn ông:
Phúc Hưng một khoảnh nước bao quanh,
Vài mẫu vườn quê đất rộng thênh.
Hết tuyết chòm mai hoa trắng xóa,
Quang mây đỉnh trúc sắc tươi xanh.
Nắng lên mời khách pha trà nhấp,
Mưa lạnh sai đồng dỡ thuốc nhanh,
Báo giặc ải Nam không khói lửa,
Bên giường một giấc ngủ êm lành.
(Theo Hoàng Việt thi văn tuyển).
Tâm hồn Trần Quang Khải vừa thoáng đạt, vừa gần gũi, gắn bó với cuộc
sống bình dị của đất nước và con người:
Nhất thanh ngưu địch thanh lâu nguyệt,
Kỷ phiến nông soa bích lũng vân.
(Tiếng sáo mục đồng dưới ánh trăng bên lầu xanh, Mấy chiếc áo tơi dưới
mây trên ruộng biếc)
(Chùa Dã Thự).
Cuộc đời Trần Quang Khải là một cuộc đời sung mãn, khí phách dọc
ngang. Vào tuổi 50, Trần Quang Khải vẫn còn viết những câu thơ đầy khát
vọng anh hùng:
Linh bình đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.
(Chí khí dũng cảm lúc còn trẻ vẫn ngang tàng, hăng hái. Muốn quật ngã
https://thuviensach.vn
ngọn gió đông, ngâm vang một bài thơ).
Ngoài bài Tụng giá hoàn kinh sứ, Lưu Gia độ (Bến đò Lưu Gia) cũng là
một bài thơ nổi tiếng của Trần Quang Khải, có thể xếp vào trong số những
bài thơ hay của thơ cổ Việt Nam.
Lưu Gia độ khẩu thụ tham thiên,
Hỗ tụng đông hành tích bạc thuyền.
Cựu tháp giang đình lưu thủy thượng,
Hoang tử cổ trùng thạch lân tiền.
Thái bình đồ chí kỷ thiên lý,
Lý đại quan hà nhị bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.
(Bến đò Lưu Gia cây cao ngất trời,
Xưa phò giá sang đông từng đỗ thuyền nơi đây.
Tháp cũ, đình xưa dựng trên sông thu,
Đền hoang, mộ cổ trước mấy con lân đá.
Bản đồ thái bình ghi mấy ngàn dặm,
Non sông nhà Lý trải hai trăm năm.
Khách thơ nay trở lại đầu đã bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống sông trong).
Những vần thơ Trần Quang Khải để lại là những ánh hào quang, ghi dấu ấn
của một sự nghiệp lớn trong cuộc đời vị Thượng tướng nhà Trần - vừa làm
thơ, vừa đánh giặc.
Hà Ân - Trần Quốc Vượng
https://thuviensach.vn
nhiều tác giả
Danh Nhân Đất Việt
Người anh hùng
thi nhân trong thơ Trần Quang Khải
T rần Quang Khải, tự Chiêu Minh, sinh vào mùa đông năm Tân Sửu
(1241), là con trai thứ ba Trần Cảnh (Trần Thái Tông). Dưới triều Trần
Thánh Tông, ông giữ chức Tướng quốc thái úy, tước Đại vương; được
thăng chức Thượng tướng Thái sư dưới triều vua Nhân Tông. Cùng với
Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải cũng là một nhân vật trọng yếu của
vương triều, đã đóng góp nhiều công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ
nước, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông
(1284 - 1288), ông đã tham gia trận phản công lớn, đánh tan quân giặc ở
Hàm Tử và Chương Dương, giải phóng Thăng Long.
Trần Quang Khải là người học rộng, biết nhiều, văn võ song toàn, ngoài ra
ông còn là một nhà ngoại giao, nhà thơ có tài.
Trong số các thi sĩ - chính khách thời Trần, Trần Quang Khải có lẽ là người
để lại cho người đọc một ấn tượng tươi tắn mà sâu đậm. Trước hết, tuy chỉ
còn lại vẻn vẹn có 10 bài thơ thôi (Trong 10 bài thơ này thì có một bài Đề
đền Bạch Mã, chỉ được chép trong Việt điện u linh tập, một bài Hạ Hồ
Thành trúng Trạng nguyên, e không đúng, và một bài Đề dã thự trùng với
bài Tĩnh Bang cảnh vật của Trần Tung trong Thượng Sĩ ngữ lục. Điều kiện
tư liệu hiện nay chưa cho phép khẳng định dứt khoát vấn đề tác giả đích
thực của các bài đó), song, thơ ông bài nào cũng mang cốt cách khoáng đạt
của một thi nhân cỡ lớn. Trần Quang Khải có làm thơ xã giao thù tạc cũng
là cái thù tạc không cần phải gắng gượng hay khách sáo, mà trái lại dung
dị, tự nhiên, hiếm người có được:
Nhất đàm tiếu khoảnh ta phân quệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sàng.
(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh) (Tức Sài Thung)
(Vừa nói cười đó mà thoắt đã ngậm ngùi dứt áo,
Tiếc những lúc hai giường đối diện, xướng họa cùng nhau).
https://thuviensach.vn
Và Trần Quang Khải có ngắm nhìn đồng quê trong tư cách một vị chủ nhân
trang trại thì vẫn là cái nhìn đột xuất, tình tứ khác thường:
Dã thự tân khai, cảnh vật tân,
Phương phi đào lý, tứ thời xuân.
Nhất thanh ngư địch, thanh lâu nguyệt,
Kỷ phiến nông thoa, bích lũng vân.
(Đề dã thự)
(Trang trại mới mở, cảnh vật thật mới mẻ,
Đào mận tốt tươi, xuân suốt cả bốn mùa.
Một tiếng sáo trẻ chăn trâu, xanh thêm mặt trăng trên lầu,
Vài tấm áo tơi nông phu, biếc hẳn đám mây dưới lũng).
Sau nữa, ấn tượng tươi tắn của chúng ta đối với Trần Quang Khải - thi nhân
còn ở chỗ, ta biết tác giả những vần thơ khoáng đạt này là một vị Thái sư
Thượng tướng, cùng với Trần Quốc Tuấn là hai nhân vật đứng đầu hàng
văn và hàng võ, đã từng góp nhiều công lao hiển hách vào công cuộc dựng
nước và giữ nước đời Trần. Là con trai thứ ba vua Trần Thái Tông, em ruột
Trần Thánh Tông, sinh năm 1241 và mất năm 1294, với tước Chiêu Minh
vương, Trần Quang Khải đã thực sự đóng một vai trò chủ chốt trong triều
chính nhà Trần suốt nhiều năm tháng, kể từ khoảng mươi năm sau cuộc
kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất (1258). Ròng rã gần hai thập niên
tạm gọi là hòa bình mà kỳ thực là chuẩn bị lực lượng rất khẩn trương ấy,
với cương vị một ông quan đầu triều, Trần Quang Khải đã ra sức chèo
chống về nội trị, ngoại giao, đưa vương triều Trần vượt qua nhiều thử
thách, nhất là những cuộc đấu trí mệt nhọc, căng thẳng với đám sứ giả
Nguyên Mông. Những bài thơ ông làm trong các dịp này cũng giống như
những bài thơ tiếp sứ của Trần Nhân Tông và nhiều người khác, có cái
mềm mỏng, nhún nhường về lời lẽ, nó là một sách lược nhất quán trong
quan hệ nhiều đời giữa nước ta với các đế chế phương Bắc vốn luôn luôn tự
thị vào cái "lớn", cái "khỏe" của mình:
Khẩu hàm uy phúc quân bao biếm,
Thân bội an nguy quốc trọng khinh.
https://thuviensach.vn
Cảm chúc tứ hiền quân phiếm ái,
Hảo vi noãn dực Việt thương sinh.
(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đẳng).
(Miệng nói lời oai phúc thay vua mà khen chê,
Thân mang theo sự an nguy quan hệ đến việc lớn nhỏ của nước nhà.
Dám xin cầu chúc bốn vị sứ giả hiền tài có lòng yêu thương rộng lớn,
Ra sức che chở cho con dân nước Việt).
Nhưng hết sức mềm mỏng đấy - và có thể không kém thân tình nữa kia đấy
- mà vẫn giữ được hiên ngang cứng cỏi sau từng chữ từng câu, nó là cái tư
thế bình đẳng của chủ đối với khách, cái phong thái đàng hoàng của những
con người luôn luôn tự chủ được mình:
Tống quân quy khứ độc bàng hoàng,
Mã thủ xâm xâm chỉ đế hương.
Nam Bắc tâm linh huyền phản bái,
Chủ tân đạo vị phiếm ly trường.
Nhất đàm tiếu khoảnh, ta phân quệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sáng.
Vị thẩm hà thời trùng đổ diện,
Ân cần ác thủ tự huyên lương.
(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh)
(Tiễn ông ra về, mình tôi luống những bâng khuâng,
Ngựa xăm xăm hướng về nẻo quê hương nhà vua.
Nỗi lòng Nam Bắc lưu luyến trên ngọn cờ người ra đi,
Tình chủ khách dạt dào trong chén rượu giã biệt.
Vừa nói cười đó mà thoắt đã ngậm ngùi dứt áo,
Tiếc những lúc hai giường đối diện, xướng họa cùng nhau.
Biết bao giờ lại được gặp mặt,
Để nắm tay ân cần kể nỗi hàn huyên).
Thế rồi, khi tình thế xã tắc không còn tài nào ngăn được cuộc xâm lăng ào
ạt của lũ giặc Mông Thát, Trần Quang Khải lập tức cởi áo phòng văn,
khoác áo tướng sĩ, dẫn đầu một đạo quân, ra đi. Và cứ thế, dưới quyền tiết
https://thuviensach.vn
chế của quốc công Trần Quốc Tuấn, ông xông pha trận mạc khắp nơi, hết
Nghệ An ra Thăng Long, lại đi các trấn phía bắc... cho đến ngày toàn thắng.
Cái tấm lòng hăng hái bất kỳ việc gì cũng không từ nan, cũng thung dung
nhận lấy và làm hết mình đó, Trần Quang Khải giữ được cho mãi đến già.
Và cái nét dung dị mà khoáng đạt, hào hùng trong con người ông cũng vậy,
vẫn là một cốt tính đặc sắc làm trẻ trung mãi ngòi bút của nhà thơ. Bài thơ
Cảm xuân có lẽ làm ít lâu trước lúc mất là biểu hiện kết hợp cả hai mặt
khoáng đạt và hăng hái nói trên.
Vũ bạch phì mai tế nhược ti,
Bế môn ngột ngột tọa thư si.
Bán phần xuân sắc nhàn sai quá,
Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.
Cố quốc tâm tùy phi điểu quyện,
Ân ba hải khoát túng lân trì.
Sinh bình đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.
(Cảm xuân, I)
(Lâm râm mưa bụi gội hoa mai,
Khép chặt phòng thơ ngất ngưởng ngồi.
Già nửa phần xuân cam bỏ uổng,
Tới năm chục tuổi biết suy rồi.
Mơ màng nước cũ chim bay mỏi,
Khơi thẳm nguồn ân, cá khó bơi.
Đảm khí ngày nào rày vẫn đó,
Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi!)
(Ngô Tất Tố dịch)
Bài thơ gợi một cảm xúc thực man mác, bâng khuâng! Trước mặt người
đọc hiện ra hai con người: một người thơ và một anh hùng. Người thơ ngồi
lặng trong phòng như si như ngây, suy tưởng mênh mang về đất nước, về
tuổi trẻ và những tháng năm đã trôi vào dĩ vãng; còn người anh hùng thì
luôn luôn tỉnh táo, nghiêm trang canh giữ xã tắc trong bao nhiêu năm
không lúc nào lơi lỏng, và vẫn chờ đợi với tấm lòng hăng hái những nhiệm
https://thuviensach.vn
vụ hệ trọng mà xã tắc phó thác cho mình! Tưởng chừng hai con người là
hai nhân vật khác hẳn nhau, đồng hành trên suốt một chặng đường dài...
vừa chẵn năm mươi năm. Nhưng nào đâu có phải! Phải nói, có được cái mê
si đầy khoái cảm của chàng thi nhân kia - mê si trong khung cảnh yên bình,
nhàn nhã của đất nước - cũng là nhờ cái tỉnh táo trường kỳ, không biết mệt
mỏi của người tráng sĩ nọ, và quả tình là ở phần cuối bài thơ, cả anh hùng
và thi nhân đều đã nhập trở lại trong một hình tượng nhất trí. Cảm hứng của
người thơ có vẻ như lâng lâng, dàn trải ở phần đầu, đến đây cũng được xác
định lại cụ thể, là niềm hứng khởi, là ý thức sắc bén trước nhiệm vụ đối với
đất nước, đúng y như cảm hứng của anh hùng:
Sinh bình đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.
(Chí khí dũng lược lúc bình sinh hãy còn hăng hái,
Muốn quật ngã gió đông mà ngâm lên một bài thơ).
Như vậy, nền tảng của sự thống nhất giữa hai con người trong thơ Trần
Quang Khải chính là sức mạnh và yêu cầu thường trực về sự vững mạnh
của xã tắc giang sơn; nhờ có nó người ta nhận thức được rằng mình vẫn còn
và tất yếu phải còn nguyên "đởm khí" - dồi dào sức trẻ. Cũng nhờ có nó,
mặt khác, người ta lại cảm thấy cái hạnh phúc được sống và quên bẵng
rằng mình đang sống, nghĩa là được thoải mái đắm mình theo nhịp trôi
chảy của thời gian, để rồi đôi khi nhìn lại mà bỗng thốt giật mình.
Sự thống nhất giữa người thơ và anh hùng trong thơ Trần Quang Khải còn
là sự thống nhất giữa hai bình diện khác nhau của cùng một con người Việt
Nam ở thời đại Lý - Trần: con người biết mê mải vui say trong nhiều niềm
vui của cuộc sống đang lên, và ngược lại, cũng biết tự cảnh giác với mọi
đam mê vô ích, để nhân sức mạnh của mình lên mà tỉnh táo chống trả với
mọi kẻ thù đang dòm ngó sơn hà xã tắc.
Con người đó, ngay trước khi bước vào giấc ngủ cũng đã mở to con mắt:
"đề phòng" dõi nhìn về những miền biên giới thân yêu:
Nam vọng lang yên vô phục khởi,
Đồi nhiên nhất tháp, mộng thiên an.
https://thuviensach.vn
(Phúc Hưng viên)
(Trông về Nam khói lửa không còn tái diễn,
Trên giường nằm ngủ yên tâm trong giấc mộng).
Con người đó, giữa lúc chuếnh choáng vài chén giải khuây vẫn không quên
phận sự, trái lại, còn biết nâng cao tấm lòng tráng chí: "Vỗ thanh gươm cũ
nhớ non xưa", làm cho sự giải khuây tăng thêm phần ý nghĩa:
Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,
Phủ kiếm du du ức cố sơn.
(Cảm xuân, II)
(Tiêu khiển nay nhờ ba chén rượu,
Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa)
(Ngô Tất Tố dịch)
Và con người đó, khi soi bóng trên dòng sông mà mặc cảm về mái tóc bạc
trắng, cũng vẫn giữ được niềm lạc quan thanh thản, vì biết tin vào lịch sử
trường tồn của đất nước, nó là cái bảo đảm vững chắc nhất cho những gì
còn lại của cá nhân mình và sự nghiệp của mình:
Thái bình đồ chí kỷ thiên lý,
Lá đại quan hà nhị bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.
(Lưu Gia Độ)
(Cơ đồ đất nước lúc thái bình rộng mấy nghìn dặm,
Non sông nhà Lý trải hai trăm năm.
Khách thơ trở lại đây đầu đã bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống lòng sông buổi trời tạnh).
Từ một con người đặc sắc nhiều mặt như thế, Trần Quang Khải đã để lại rất
nhiều mối cảm tình cho người đọc thơ ông. Có thể nói, chân dung một Trần
Quang Khải nhà thơ đã hòa quyện với chân dung một Trần Quang Khải ở
trong sử sách, cũng như một Trần Quang Khải ở trong sử sách, đã làm giàu
thêm sức sống và thi liệu cho một Trần Quang Khải trong thơ. ấn tượng sâu
https://thuviensach.vn
sắc của người đọ...
 





