THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG GIỚI THIỆU SÁCH CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 26/3
Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường Tiểu học Tứ Cường- Xã Thanh Miện- Thành phố Hải Phòng
Cổ học tinh hoa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 14h:22' 26-12-2025
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 14h:22' 26-12-2025
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Mục lục
TIỂU TỰ
1. KHÔNG QUÊN ĐƯỢC CÁI CŨ
2. LÚC ĐI TRẮNG, LÚC VỀ ĐEN
3. LỢI MÊ LÒNG NGƯỜI
4. LẤY CỦA BAN NGÀY
5. KHỔ THÂN LÀM VIỆC NGHĨA
6. CÁCH CƯ XỬ Ở ĐỜI
7. TU THÂN
8. ÔM CÂY ĐỢI THỎ
9. ĐÁNH DẤU THUYỀN TÌM GƯƠM
10. BA CON RẬN KIỆN NHAU
11. HAI PHẢI
12. TĂNG SÂM GIẾT NGƯỜI
13. BÁN MỘC BÁN GIAO
14. NGỌC TRONG ĐÁ
15. BẮT CHƯỚC NHĂN MẶT
16. CÁI ĐƯỢC CÁI MẤT CỦA NGƯỜI LÀM QUAN
17. CAN VUA BỎ RƯỢU
18. KHÉO CAN ĐƯỢC VUA
19. CHẾT MÀ CÒN RĂN ĐƯỢC VUA
20. YÊU NÊN TỐT GHÉT NÊN XẤU
21. HÀ BÁ LẤY VỢ
22. GHÉT CON KHÔNG GIỐNG MÌNH
23. LỢN MẸ GIẾT CON
24. GIÁP ẤT TRANH LUẬN
25. MẶT TRỜI XA, GẦN
26. CÁCH PHỤC LÒNG NGƯỜI
27. LÒNG CƯƠNG TRỰC
28. TRÍ, TRUNG, DŨNG.
29. BIẾT LẼ NGƯỢC, XUÔI
30. TÀI NGHỆ CON LỪA
31. ĐÁNH ĐÀN
32. THỔI SÁO
https://thuviensach.vn
33. NGƯỜI NƯỚC LỖ SANG NƯỚC VIỆT
34. GIỮ LẤY NGHỀ MÌNH
35. CHUYỆN A LƯU
36. MẤT BÚA
37. TƯỜNG ÐỔ
38. NGƯỜI CON CÓ HIẾU
39. THẦY TĂNG SÂM
40. ÔNG QUAN THANH BẠCH
41. KHÔNG NHẬN CÁ
42. CỦA BÁU
43. BIẾT RÕ CHỮ "NGHĨA"
44. TRI KỶ
45. CẢM TÌNH
46. VÌ NGHĨA CÔNG, QUÊN THÙ RIÊNG
47. DUNG NGƯỜI ĐƯỢC BÁO
48. NÓI THÍ DỤ
49. CON CÚ MÈO VÀ CON CHIM GÁY
50. CON CÒ VÀ CON TRAI
51. HỒ MƯỢN OAI HỔ
52. MẠNH THƯỜNG QUÂN VÀO NƯỚC TẦN
53. THẬP BÌ NÓI CHUYỆN VỚI HUỆ VƯƠNG
54. THAM LỢI TRƯỚC MẮT, QUÊN HẠI SAU LƯNG
55. TRƯỚC KHI ĐÁNH NGƯỜI PHẢI BIẾT GIỮ MÌNH
56. KHÔNG NÊN SÁT PHẠT LẪN NHAU
57.DIỀU GỖ
58. LÁ DÓ
59.CHỮ TÍN
60. TỰ LÀM KHOAN KHOÁI
61. NGƯỜI KHÔN SỐNG LÂU
62. VỢ RĂN CHỒNG
63. BÀ HUYỆN CAN ĐẢM
64. THẾ NÀO LÀ TRUNG THẦN
65. BÁO THÙ
66. CÁCH DÙNG PHÁP LUẬT
67. THẬT GIẢ KHÓ PHÂN
68. TRUYỆN ĐƯỜI ƯƠI
69.THUẬT XEM TƯỚNG
https://thuviensach.vn
70. THEO AI PHẢI CẨN THẬN
71.SAY, TỈNH, ĐỤC, TRONG
72. NHAN SÚC NÓI TRUYỆN VỚI TỀ VƯƠNG
73.KHẤU CHUẨN THƯƠNG NHỚ MẸ
74. TÌNH MẸ CON CON VƯỢN
75. HỌC TRÒ BIẾT HỌC
76.PHÚC ĐẤY HỌA ĐẤY
77. HỌA PHÚC KHÔN LƯỜNG
78.VẼ GÌ KHÓ
79. CÁCH ĐÂM HỔ
80. ÂM NHẠC
81. TRÍ VÀ NHÂN
82. HẾT LÒNG VÌ NƯỚC
83. BỌ NGỰA CHỐNG XE
84. ỨNG ĐỐI LINH LỢI
85. THỬA GIÀY
86. CỨU NGƯỜI LÚC NGUY CẤP
87. NGHÈO MÀ KHÔNG OÁN
88. THÂN TRỌNG HƠN LÀM VUA
89. THÂN TRỌNG HƠN THIÊN HẠ
90. CHÚC MỪNG
91. NGƯỜI BÁN THỊT DÊ
92. THÀNH THỰC
93.MẸ HIỀN DẠY CON
94. NGỌC BÍCH HỌ HÒA
95. NUÔI GÀ CHỌI
96. DÙNG CHÓ BẮT CHUỘT
97. LỜI NGƯỜI BÁN CAM
98. VỢ CHỒNG NGƯỜI NƯỚC TỀ
99. ĐẦY THÌ ĐỔ
100. ÔNG LÃO BÁN DẦU
101. GẶP QUỈ
102. MUA NGHĨA
103. ỨNG ĐỐI GIỎI
104. HÀ CHÍNH MÃNH Ư HỔ
105. HANG NGU CÔNG
106.TRUNG HIẾU LƯỠNG TOÀN
https://thuviensach.vn
107. MONG LÀM ĐIỀU PHẢI
108. KẺ BẤT CHÍNH
109. NHÂN TRUNG DÀI THÌ SỐNG LÂU
110. THUỐC BẤT TỬ
111. CÁI LẼ SỐNG CHẾT
112. NÓI VỀ SỐNG CHẾT
113. BIẾT DỞ SỬA NGAY
114. TÀI BẤT TÀI
115. QUÊN CẢ CÁI THÂN
116. ĐẠI ĐỒNG
117.CẦU Ở MÌNH HƠN CẦU Ở NGƯỜI
118. HÒA THUẬN VỚI MỌI NGƯỜI
119. MẤT CUNG
120. MUÔN VẬT MỘT LOÀI
121.LÚC NÀO ĐƯỢC NGHỈ
122. CÓ CHỊU LO, CHỊU LÀM MỚI SỐNG ĐƯỢC
123. CHÍNH DANH
124. NÊN XỬ THẾ NÀO
125. CHIẾC THUYỀN ĐỤNG CHIẾC ĐÒ
126. RẮN RỜI CHỖ Ở
127. NHƯỜNG THIÊN HẠ
128. RỬA TAI
129. CHẾT ĐÓI ĐẦU NÚI
130. ĐỜI NGƯỜI
131. BA ĐIỀU KHÓ HỌC
132. BA ĐIỀU VUI
133. THƯƠNG MẸ GIÀ YẾU
134. ÁO ĐƠN MÙA RÉT
135. DÂNG THƯ CỨU CHA
136. NUÔI MẸ BẰNG ĐIỀU PHẢI
137. SAY BẮN CHẾT TRÂU
138. TÊN TÙ NƯỚC SỞ
139. BỆNH QUÊN
140. BỆNH MÊ
141. VỢ LẼ PHẢI ĐÒN
142. KHOÉT MẮT
143. VỢ XẤU
https://thuviensach.vn
144. GHEN CŨNG PHẢI YÊU
145. LỜI CON CAN CHA
146. MỘT CÁCH ĐỂ LẠI CHO CON CHÁU
147. MỘT CÁCH LO XA CHO CON CHÁU
148. HAI THẦY TRÒ DẠY NHAU
149. LƯỠI VẪN CÒN
150. KHÔNG CHỊU NHỤC
151. CÂU NÓI CỦA NGƯỜI ĐÁNH CÁ
152. VUA TÔI BÀN VIỆC
153. KHÓ ĐƯỢC YẾT KIẾN
154. KHÔNG PHỤC NƯỚC TẦN
155. CẬY NGƯỜI KHÔNG BẰNG CHẮC Ở MÌNH
156. PHẨM TRẬT ÔNG QUAN, PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
157.BÀI TRÂM CỦA NGƯỜI LÀM QUAN
158. CƯỜI NGƯỜI TA KHÓC
159. HIẾU TỬ, TRUNG THẦN
160. ĐỌC SÁCH CỔ
161. MẤT DÊ
162. THỰC HỌC
163. ĐÂY MỚI THẬT LÀ THẦY
164. BỎ QUÊN CON SINH
165. CHỌN NGƯỜI RỒI SAU HÃY GÂY DỰNG
166. CƠ TÂM
167. KHÔNG ĐỢI TRÔNG CŨNG BIẾT
168. KHINH NGƯỜI
169. HAI CÔ VỢ LẼ NGƯỜI NHÀ TRỌ
170. BA ĐIỀU PHẢI NGHĨ
171. LO, VUI
172. THẤY LỢI NGHĨ ĐẾN HẠI
173. THỦY CHUNG VỚI VỢ
174. ĐÁNG SỢ GÌ HƠN CẢ
175. CHỈ BIẾT CÓ MÌNH
176. THỞ DÀI
177. THẰNG ĐIÊN
178. NGƯỜI XUẤT TỤC
179. VỢ THẦY KIỆN
180. ÁC NGẦM
https://thuviensach.vn
181. BẢY CÔ VỢ LẼ
182. GÕ NHỊP MÀ HÁT
183. LIÊM, SỈ
184. TIỄN NGƯỜI ĐI LÀM QUAN
185. VIẾNG NGƯỜI ĐI LÀM QUAN
186. ĐỨC UỐNG RƯỢU
187. LÀNG SAY
188. TREO KIẾM BÊN MỘ
189. CHẾT VÌ LỄ NGHĨA HAY VÌ TÌNH
190. VÌ NGHĨA NÊN TÌNH
191. NGHĨA CÔNG NẶNG HƠN TÌNH RIÊNG
192. MẸ KHÔN CON GIỎI
193. TU TẠI GIA
194. NGƯỜI VỢ HIỀN MINH
195. TRỌNG NGHĨA KHINH TÀI
196. MUA XƯƠNG NGỰA
197. LỜI NÓI KẺ BẮT RẮN
198. HÒA VI QUÝ
199. CÁCH TRỊ DÂN
200. CAN GÌ MÀ PHÁ ĐI
201. HAY DỞ ĐỀU DO MÌNH CẢ
202. NGỤY BIỆN
203. KHÔNG CHỊU THEO KẺ PHẢN NGHỊCH
204. CÁCH CƯ XỬ Ở ĐỜI
205. TỰ XÉT LẠI MÌNH
206. KHÔNG NÊN CÂU NỆ
207. TRI KỶ
208. TRỒNG KHÓ, NHỔ DỄ
209. NGƯỜI KIẾM CỦI ĐƯỢC CON HƯƠU
210. HỎI THĂM DÂN
211. DÂN QUÍ NHẤT
212. NHUỘM TƠ
213. KÉO LÊ ĐUÔI MÀ ĐI
214. PHẢI BIẾT PHÒNG XA
215. MỘT CÂU ĐOÁN ĐÚNG
216. CÙNG, ĐẠT BỞI SỐ
217. THƯ VIẾT RĂN CON
https://thuviensach.vn
218. VIẾT THƯ KHUYÊN BẠN
219. THƯ VIẾT CHO BẠN
220. THAM THÌ CHẾT
221. THAM VÌ BỊ HẠI
222. PHÂN TÍCH KHÔNG RÕ
223. KHÔNG YÊU NHAU MỚI LOẠN
224.CŨNG LÀ ĂN TRỘM
225. LƠ TRỜI ĐỔ
226. DÙNG RƯỢU SAY ĐỂ KHIẾN CHỒNG
227. TƯỚI DƯA CHO NGƯỜI
228. CÁCH BIẾT LÒNG NGƯỜI
229. CÁCH LÀM CHO KHỎI TỨC GIẬN
230. TIỄN MỘT LỜI NÓI
231. QUÝ LỜI NÓI PHẢI
232. TƯ TƯỞNG LÃO TỬ
233. LÀM NHÀ CỎ CŨNG ĐỦ
234. THẾ NÀO LÀ ĐẠI TRƯỢNG PHU
235. THIÊN HẠ SĨ
236. DỰ NHƯỢNG BÁO THÙ
237. QUAN TÀI CON
238. LỆCH THỪA KHÔNG BẰNG NGAY THIẾU
239. BẮT THAY CHIẾU
240. ĐÁM MA TO
241. MUÔN VẬT MỘT THỂ
242. TỰ TỈNH
243. NGU CÔNG DỌN NÚI
DANH NGÔN DANH LÝ
LỜI BẠT
https://thuviensach.vn
TIỂU TỰ
“Có mới, nới cũ” thường tình vẫn thế. Tân học mỗi ngày một tiến, tất Cựu
học phải lùi và có khi sợ rồi mai một đi mất. Nhưng, Tân học mà hay, tất là
Tân học có một nền tảng vững chắc. Nền tảng ấy tức là tinh hoa của Cựu học.
Cựu học nước nhà là một thứ học trải qua bao nhiêu đời, đã làm cho ông cha
ta phù thực được cương thường, chấn chỉnh được phong hóa, bảo tồn được
quốc thể, duy trì được thế đạo nhân tâm, thật không phải là một cái Học
không có giá trị đáng khinh rẻ hay quên bỏ được. Vả chăng: "Tri kim, nhi bất
tri cổ, vị chi manh cổ; tri cổ, nhi bất tri kim, vị tri lục trầm" ta đã biết truyện
đời nay, ta lại cần phải học truyện đời xưa, ta ôn lại việc đời xưa mà ta rõ
được việc đời nay, có như thế, thì cái Học của ta mới không đến nỗi khiếm
khuyết. Vì, tuy chia làm cổ, kim, nhưng chẳng qua cũng chỉ là buổi sớm, buổi
chiều trong một ngày của trời đất, kẻ học giả mà câu nệ chấp nhất, chỉ biết cổ
không muốn biết kim, hay chỉ biết kim không muốn biết cổ, thì sao gọi là
"bác cổ thông kim" được!
Cựu học của ta là gì? Cựu học của ta tức là Hán học nghĩa là một cái Học
chung cho cả mấy dân tộc ở Á Đông đã chịu cái văn hóa của giống người
Hán, tức là người Trung Hoa. Cựu học không phải là chỉ có Tứ Thư, Ngũ
Kinh, xưa kia đa số quen dùng làm cái học cử nghiệp mà thôi. Ngoại giả, còn
Bác gia chư tử thật là man mác rộng như bể, học thuyết đủ mọi mặt, lý tưởng
rất sâu xa, muốn học cho tới nơi, phải mất bao nhiêu công phu, thời giờ mới
được. Nay, chúng tôi biên tập quyển sách nầy, không phải là muốn chuyên
tâm nghiên cứu riêng một phái nào hay một nhà nào. Chúng tôi chỉ góp nhặt
một đôi chút lý tưởng trong Cổ học gọi là để cho người đọc thiệp liệp qua
được một ít tinh hoa của lối học cũ mà thôi. Nên chúng tôi mới lạm dụng bốn
chữ "Cổ Học Tinh Hoa" làm nhan sách.
Chúng tôi có ý chọn những bài ngắn mà nghĩa lý hàm súc dồi dào. Những
bài ấy tuy là truyện từ đời xưa bên Tàu, nhưng ứng dụng vào đời nào và ở
đâu cũng được. Vì truyện tuy cổ, nhưng cái chân lý thì bao giờ cũng là một,
mà bao giờ cũng như mới. Nào hiếu đệ, nào trung tín, nào lễ nghĩa, nào liêm
sĩ, đến cả những việc kỳ quái, sinh tử; bài nầy chính giọng huấn giáo, bài kia
rõ thể ngụ ngôn, truyện nầy nghiêm trang khắc khổ, truyện kia khôi hài lý
thú; đức Khổng nói "Nhân" hồn nhiên như hóa công; ông Mạnh bàn "Nghĩa"
chơm chởm như núi đá, Tuân Tử nói "Lễ" thật là đường bệ, Mặc Tử nói "Ái"
thật là rộng rãi, hình danh như Hàn phi tử thật là nghiêm nghị khiến người
mất bụng làm xằng, ngôn luận như Án Tử thật là thâm thiết khiến người dễ
https://thuviensach.vn
đường tỉnh ngộ, đến nói đạo đức như Lão Tử, bàn khoáng đạt như Trang Tử
thật lại biến hóa như rồng, phấp phới như mây... các lý thuyết mỗi nhà một
khác, có khi phản đối hẳn nhau, nhưng thực khiến cho người đọc vừa được
vui, vừa phải đem tâm suy nghĩ.
Dịch những bài văn như thế, chúng tôi lấy làm rất khó. Chẳng những chữ
Hán dịch ra chữ Nam, lắm câu không hết được nghĩa, nhiều bài, chính
nguyên văn cũng mỗi nơi chép một khác không lấy gì làm xác định. Nên khi
dịch, chúng tôi phải châm chước cân nhắc từng bài, bài thì địch thẳng nguyên
văn, bài thì chỉ dịch lấy đại ý, hoặc có bài phải rút bớt, hay thêm ra, hay đúc
lại, cốt cho nó xuông tiếng Nam mà không hại đến nghĩa bài thì thôi. Dịch
Hán văn ra quốc văn, tất phải dùng nhiều chữ Hán. Song chữ nào bất đắc dĩ
phải dùng, thì ở dưới chúng tôi đã có "giải nghĩa" rõ ràng. Nghĩa ấy thường
chỉ là nghĩa riêng trong bài, chớ không phải hết mọi nghĩa của từng chữ.
Những tên người, tên đất, muốn cho tinh tường, đáng lẽ phải có một cái
biểu liệt đủ tên những tác giả cùng những người nói trong chuyện và một bức
địa đồ Trung Hoa trải qua các thời đại. Nhưng việc ấy xin để nhường những
nhà chuyên về Bắc sử sau nầy, đây chúng tôi chỉ chua qua để cho độc giả đủ
biết cái đại cương mà thôi. Đọc một bài văn hay, mà tư tưởng đã thấm thía
vào tâm não, thì tất không sao để yên ngòi bút mà không phê bình được. Đó
cũng là một cái thông bệnh của những người hâm mộ văn chương hay có cái
thú ngâm nga và đưa ngòi bút khuyên liền, khuyên kín vậy. Chúng tôi cũng
không tránh khỏi cái bệnh ấy. Nên dưới mỗi bài chúng tôi cũng góp "Lời
Bàn", cốt là để giải rõ các đại ý trong bài hoặc lạm bình một, đôi câu ứng với
cái thời buổi bây giờ.
Chúng tôi mạo muội biên dịch quyển sách nầy là quyển đầu, có ý bảo tồn
tinh hoa của cổ học và mong các bạn thiếu niên ta nhớ đến nguồn gốc từ bao
nghiêu nghìn năm về trước, rõ các điển tích thường dẫn trong văn chương
nước nhà, thêm trước được ít tài liệu có khi làm văn phải dùng đến, rộng
được ít tri thức tuy thuộc về Cổ học mà thật khác nào "như thóc gạo, như vải
lụa", thường cần đến hàng ngày. Nếu quyển sách này, giúp được một phần
trong muôn phần ấy, thì chúng tôi lấy làm hoan hỷ lắm vậy.
Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm Ất Sửu (1925)
Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc
Từ An Trần Lê Nhân
https://thuviensach.vn
1. KHÔNG QUÊN ĐƯỢC CÁI CŨ
Đức Khổng tử ra chơi ngoài đồng, thấy một người đàn bà đứng khóc nỉ
non ở chỗ bờ đầm. Đức Khổng tử lấy làm lạ, bảo học trò hỏi vì cớ gì mà
khóc. Người đàn bà nói: "Độ trước tôi cắt cỏ thi, tôi đánh mất cái trâm cài
đầu bằng cỏ thi, cho nên tôi khóc." Đức Khổng tử hỏi: Đi cắt cỏ thi, mà mất
cái trâm bằng cỏ, thì việc gì mà phải khóc? Người đàn bà nói: Không phải vì
tôi đánh mất cái trâm cỏ thi mà tôi khóc; tôi sở dĩ khóc, là tôi thương tiếc một
vật cũ, dùng đã lâu, mà ngày nay không sao thấy được nữa.
GIẢI NGHĨA
Khổng Tử Tập Ngữ: sách chép những lời nói, những truyện về đức Khổng
Tử.
Khổng Tử tên là Khưa, tên tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, thời Xuân Thu
nhà Chu, học về Lễ, Nhạc, Văn chương đời cỗ, đi nhiều nước chư hầu không
được dụng bỏ về làm kinh Xuân Thu, san định các kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ,
Nhạc và dạy học trò được ba nghìn người, có bảy mươi hai người giỏi. Nước
Tàu xưng làm Tổ đạo Nho.
LỜI BÀN
Cái gì đã là của mình, mình có bụng yêu, mà lỡ khi mất, thì về sau dù có
được cái khác giống như thế, hay hơn thế, mình cũng không thể sao yêu cho
bằng. Thường, lại chỉ vì thấy cái mới mà hồi nhớ đến cái cũ, sinh ra chạnh
lòng, nên câu ta thán, có khi ngậm ngùi thương khóc nỉ non. Tại sao vậy? Tại
đối với mình, cái của mất không chỉ có giá của mà thôi, lại hình như còn có
một phần tâm hồn mình hay tâm hồn người để lại cho mình ngụ ở trong nữa.
Sự cảm động đầu tiên bao giờ cũng là sự cảm động hay nhất, bền nhất. Ôi!
Cáo chết ba năm quay đầu về núi, con người ta, dù cho lông bông xiêu bạt
đến thế nào, còn có chút tâm tình cũng không sao quên được gốc tích xứ sở
mình. "Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi". Con ngựa rợ Hồ (phía
bắc nước Tàu) thấy gió bắc còn cất tiếng kêu, con chim đất Việt (phía nam
nước Tàu) chọn cành nam mới chịu làm tổ, huống chi là người mà lại quên
được nguồn gốc ư.
https://thuviensach.vn
2. LÚC ĐI TRẮNG, LÚC VỀ ĐEN
Một hôm trời nắng Dương Bố đi chơi. Khi ở nhà ra, thì mặc áo trắng, đi
được nửa đường, gặp trời mưa, quần áo ướt hết, mới vào ẩn mưa ở nhà bà
con. Người ấy thấy Dương Bố ướt cả cho mượn cái áo thâm.
Một lúc trời tạnh, Dương Bố mặc áo thâm về nhà. Con chó trông thấy, vừa
cắn vừa xua đuổi. Dương Bố giận toan cầm gậy đánh.
Anh là Dương Chu chạy ra bảo:
"Đừng đánh nó làm gì! Nó đuổi như thế cũng phải. Giả sử con chó trắng
nhà ta, lúc đi, thì trắng, lúc về thì đen, phỏng em có không lấy làm lạ mà
không ngờ được không?"
GIẢI NGHĨA
Liệt Tử: sách của Liệt Ngữ Khấu hay người truyền học thuyết của Liệt
Ngữ Khấu soạn ra, có tám quyển, sau nhà Đường, nhà Tống đặt tên là Sung
Hư Chân Kinh, hay Sung Hu chí đức chân kinh.
LỜI BÀN
Lúc đi mặc áo trắng, lúc về mặc áo thâm, chính mình không biết mình thay
đổi, con chó thấy khác thì xua đuổi. Mình đánh nó chẳng hóa ra lầm lắm ru!
Lỗi tại mình thay đổi không tại con chó cắn xằng. Vậy nên ở đời khi mình
làm điều gì khác thường, mà người ta không rõ, thì tất nhiên người ta bàn trái
bàn phải. Nếu mình không tự xét mình thay đổi hay dở, chỉ biết trách người
nghị luận nọ kia, thì chẳng khác nào như Dương Bố đánh chó trong truyện
này.
https://thuviensach.vn
3. LỢI MÊ LÒNG NGƯỜI
Nước Tống có kẻ mất cái áo thâm. Anh ta ra đường tìm. Thấy người đàn
bà mặc áo thâm, níu lại đòi rằng: “Tôi vừa mất cái áo thâm, chị phải đền trả
tôi cái này”. Rồi cứ giữ chặt cái áo không buông ra nữa.
Người đàn bà cãi: “Ông mất cái áo thâm, tôi biết đấy là đâu. Áo tôi mặc
đây là áo của tôi, chính tay tôi may ra”.
Anh kia nói: “Chị cứ phải đền trả áo cho tôi. Cái áo thâm tôi mất dày, cái
áo thâm chị mặc mỏng. Lấy áo thâm mỏng của chị đền cái áo thâm dày cho
tôi, còn phải nói lôi thôi gì nữa!”
(Tử Hoa Tử)
GIẢI NGHĨA
Nước Tống: Một nước chư hầu thời Xuân Thu, sau bị nước Tề lấy mất, ở
vào huyện Thuợng Khưu tỉnh Hà Nam bây giờ.
Thâm: Sắc đen.
Níu: Giằng dai giữ lại không cho đi.
LỜI BÀN
Mất áo trong nhà mà ra đường tìm, đã là chuyện bật cười. Mất áo đàn ông
mà đòi áo đàn bà lại là chuyện bật cười. Mất áo thâm dày bắt đền áo thâm
mỏng mà cho là phải, lại là chuyện bật cười nữa. Ôi cái lợi nó làm cho lòng
người mê muội, chỉ biết có mình không biết có ai, chỉ vụ lợi cho mình mà
quên cả phải tráị Kẻ nào đã vụ lợi như thế, thì cái gì mà chẳng dám làm, cái
gì mà chả dám nói! Than ôi! Cái đời kim tiền bây giờ biết bao nhiêu phường
đòi áo như người nói trong truyện này.
https://thuviensach.vn
4. LẤY CỦA BAN NGÀY
Nước Tấn có kẻ hiếu lợi một hôm ra chợ gặp cái gì cũng lấy. Anh ta nói
rằng: "Cái này tôi ăn được, cái này tôi mặc được, cái này tôi tiêu được, cái
này tôi dùng được." Lấy rồi đem đi. Người ta theo đòi tiền. Anh ta nói: "Lửa
tham nó bốc lên mờ cả hai con mắt. Bao nhiêu hàng hóa trong chợ tôi cứ
tưởng của tôi cả, không còn trông thấy ai nữa. Thôi, các người cứ cho tôi, sau
nầy tôi giàu có, tôi sẽ đem tiền trả lại". Người coi chợ thấy càn dỡ, đánh cho
mấy roi, bắt của ai phải trả lại cho người ấy. Cả chợ cười ồ. Anh ta mắng:
"Thế gian còn nhiều kẻ hiếu lợi hơn ta, thường dụng thiên phương, bách kế
ngấm ngầm lấy của của người. Ta đây tuy thế, song lấy giữa ban ngày so với
những kẻ ấy thì lại chẳng hơn ư? Các ngươi cười ta là các người chưa nghĩ
kỹ!"
GIẢI NGHĨA
Long Môn Tử: tức là Tư Mã Thiên làm quan Thái Sư nhà Hán là một nhà
sử ký có danh.
Hiếu lợi: ham tiền của quên cả phải trái.
Lửa tham: lòng tham muốn bốc lên làm ngốt người.
Mờ cả hai con mắt: chỉ để cả vào của muốn lấy, ngoài ra không trông thấy
gì nữa.
Thế gian: cõi đời người ta ở.
Thiên phương bách kế: mưu này, chước khác xoay đủ trăm nghìn cấp.
Ban ngày: lúc sáng sủa dễ trông thấy.
LỜI BÀN
Đã là kẻ thấy của tối mắt, tham vàng bỏ nghĩa, thì dù ít, dù nhiều cũng là
đáng khinh cả, song đem những kẻ mặt to, tai lớn, vì ham mê phú quý mà
lường thầy, phản bạn, hại ngầm đồng bào so với những quân cắp đường, cắp
chợ giữa ban ngày để nuôi miệng thì tội đến nặng hơn biết bao nhiêu. Thế mà
trách đời chỉ biết chê cười những quân trộm cướp vặt chớ không biết trừng trị
những kẻ đại gian đại ác.
https://thuviensach.vn
5. KHỔ THÂN LÀM VIỆC NGHĨA
Mặc Tử ở nước Lỗ sang nước Tề, qua nhà người bạn cũ, vào chơi. Người
bạn nói chuyện với Mặc Tử rằng: "Bây giờ thiên hạ ai còn thiết đến việc
"nghĩa", một mình ông tự khổ thân để làm việc nghĩa, thì có thấm vào đâu!
Chẳng thà thôi đi có hơn không? - Mặc Tử nói: "Bây giờ có người ở đây, nhà
mười đứa con, một đứa cày, chín đứa ngồi ăn không, thì đứa cày chẳng nên
càng chăm cày hơn lên ư? Tại sao thế? Tại đứa ăn không nhiều, đứa đi cày ít.
Bây giờ thiên hạ chẳng ai chịu làm việc nghĩa, thì ông phải biết khuyên tôi
càng làm lắm mới phải, có đâu lại ngăn tôi như thế!"
GIẢI NGHĨA
Mặc Tử: tên sách của Mặc Địch soạn, chủ nghĩa là kiêm ái yêu người như
yêu mình cũng gần giống chủ nghĩa của đạo Cơ Đốc và đạo Thích Ca.
Tề: một nước chư hầu lớn, thời Xuân Thu Chiến Quốc, cũng ở vào địa
phận tỉnh Sơn Đông bây giờ.
Nghĩa: việc phải, việc hay mà người ta nên làm.
Tự khổ thân: tự mình làm cho mình khóc nhọc vất vả.
LỜI BÀN
Trong khi nhân tâm thế đạo suy đồi, mình là người còn đứng vững được,
thì sao lại chịu suy đồi với thiên hạ cho cùng trôi một loạt. Vì nếu ai cũng
như thế cả, thì còn đâu là người cảnh tỉnh được kẻ u mê để duy trì lấy nhân
tâm thế đạo nữa? Cho nên những người thức thời, có chí, dù ở vào cái đời
biến loạn đến đâu, cũng không chịu đắm đuối vào cái bất nghĩa, khác nào
như: cây tòng, cây bách, mùa đông sương tuyết, mà vẫn xanh, như con gà
trống, mưa gió tối tăm mà vẫn gáy. Những bậc ấy chẳng những thế mà thôi,
lại còn đem bao nhiêu tinh lực tâm trí ra, cố gắng giữ lấy phong hóa mà dìu
dắt, mà đưa đường cho những kẻ u mê đắm đuối. Như Mặc Tử đây, cho là
đời là suy biến, coi sự làm việc "Nghĩa", sự cổ động việc nghĩa như cái chức
vụ của mình phải làm, thực là người có công với loài người vậy.
https://thuviensach.vn
6. CÁCH CƯ XỬ Ở ĐỜI
Thầy Nhan Uyên, hỏi Đức Khổng Tử: "Hồi này muốn nghèo mà cũng
được như giàu, hèn mà cũng được như sang, không phải khỏe mà có oai, chơi
bời với người ta suốt đời không lo sợ gì, muốn như vậy, có nên không?"
Đức Khổng Tử nói: "Người hỏi thể phải lắm. Nghèo, mà muốn cũng như
giàu, thế là biết bằng lòng số phận không ham mê gì. Hèn, mà cũng muốn
như sang, thế là biết nhún nhường và có lễ độ. Không khỏe, mà muốn có oai,
thế là biết thận trọng, cung kính không lầm lỗi gì. Chơi bời với mọi người mà
muốn suốt đời không lo sợ, thế là biết chọn lời rồi mới nói.
Khổng Tử Tập Ngữ
GIẢI NGHĨA
Khổng Tử Tập Ngữ: sách chép những lời nói, những truyện về đức Khổng
Tử. - Khổng Tử tên là Khưa, tên tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, thời Xuân
Thu nhà Chu, học về Lễ, Nhạc, Văn chương đời cỗ, đi nhiều nước chư hầu
không được dụng bỏ về làm kinh Xuân Thu, san định các kinh Thi, Thư,
Dịch, Lễ, Nhạc và dạy học trò được ba nghìn người, có bảy mươi hai người
giỏi. Nước Tàu xưng làm Tổ đạo Nho.
Nhan Uyên: tên là Hồi, người nước Lỗ, thời Xuân Thu, học trò giỏi nhất
của Đức Khổng Tử.
Hồi: theo lễ xưa, hầu chuyện những bậc trên, như vua, cha, thầy học,
thường hay xưng tên.
Lễ độ: phép tắc mực thước.
Thận trọng: cẩn thận, trọng hậu.
LỜI BÀN
Không cần công danh phú quí thế là biết giữ thiên tước hơn là nhân tước,
không để ai khinh lờn được, thế là biết trọng phẩm giá mình, không muốn
đeo cái lo vào mình, thế là biết giữ thân không phiền lụy đến ai. Ở đời mà giữ
trọn vẹn được mấy điều như thế, tưởng thật là một cách vui thú rất cao
thượng vậy.
https://thuviensach.vn
7. TU THÂN
Thấy người hay, thì phải cố mà bắt chước; thấy người dở thì phải tự xét
xem có dở như thế không để mà sửa đổi. Chính mình có điều hay, thì phải cố
mà giữ lấy; chính mình có điều dở, thì phải cố mà trừ đi.
Người chê ta, mà chê phải, tức là thầy ta; người khen ta, mà khen phải, tức
là bạn ta; còn người nịnh hót ta lại là người cừu địch hại ta vậy. Cho nên
người quân tử trọng thầy, quí bạn và rất ghét cừu địch, thích điều phải mà
không chán, nghe lời can mà biết răn... như thế dù muốn không hay cũng
không được.
Kẻ tiểu nhân thì không thế. Cực bậy, mà lại ghét người chê mình; rất dở,
mà lại thích người khen mình; bụng dạ như hổ lang, ăn ở như cầm thú, mà
thấy người ta không phục, lại không bằng lòng; thân với kẻ siểm nịnh, xa
cách kẻ can ngăn, thấy người chính trực thì cười, thấy người trung tín thì
chê... Như thế thì dù muốn không dở cũng không được.
Tuân Tử
GIẢI NGHĨA
Tuân Tử: tên thật là Huống, tên tự là Khanh, người nước Triệu, sinh ra sau
Mạnh Tử độ 50 năm, thấy đời bấy giờ cứ loạn luôn mãi và phong hóa suy
đồi, làm sách nói về lễ nghĩa, lễ nhạc, cốt ý để chỉnh đức và hành đạo.
Quân tử: Người có tài đức hơn người.
Tiểu nhân: Kẻ bất chính, gian ác, tự tư, tự lợi.
Cầm thú: cầm: giống có hai chân và hai cánh; thú: giống có bốn chân, hai
chữ chỉ loài chim và loài muông.
Chính trực: ngay thẳng.
Trung tín: hết lòng, thật bụng.
LỜI BÀN
Cái đạo tu thân rút lại chỉ có biết theo điều hay, biết tránh điều dở. Mà
muốn tới cái mục đích ấy, thì không những là tự mình phải xét mình lại còn
phải xét cái cách người ở với mình nữa. Đối với người, cần phải biết hai điều:
Ai khen chê phải, khuyên răn hay, thì phục, thì bắt chước; ai chiều lòng nịnh
hót, thì tránh cho xa, coi như quân cừu địch. "Nên ưa người ta khuyên mình
hơn người ta khen mình" có như thế, thì mới tu thân được.
https://thuviensach.vn
8. ÔM CÂY ĐỢI THỎ
Một người nước Tống đang cày ruộng. Giữa ruộng có một cây to. Có con
thỏ đồng ở đâu chạy lại, đâm vào gốc cây, đập đầu chết. Người cày ruộng
thấy thế, bỏ cày, vội chạy đi bắt thỏ. Đoạn, cứ ngồi khư khư ôm gốc cây,
mong lại được thỏ nữa. Nhưng đợi mãi chẳng thấy thỏ đâu, lại mất một buổi
cày. Thiên hạ thấy vậy, ai cũng chê cười.
Hàn Phi Tử
GIẢI NGHĨA
Hàn Phi Tử: Công tử nước Hàn, học trò Tuân Tử chuyên về bình danh
pháp luật, nước Hàn không dùng, sang ở nước Tần, được đại dụng, nhưng sau
bị kẻ gièm pha, rồi tự tử. Sách của Hàn Phi Tử có 50 thiên, đặt tên Hàn Tử.
Nhà Tống sau thêm chữ Phi để khỏi lầm lẫn với Hàn Dũ.
Đoạn: nghĩa đen là đứt, việc nầy đứt đến việc khác.
LỜI BÀN
Thấy mùi, quen mui làm mãi. Ở đời những kẻ ngẫu nhiên gặp may, mà ước
ao được gặp may luôn như thế nữa, không biết sự may là tình cờ mới có, thì
có khác gì người nước Tống ôm cây đợi thỏ nầy. Anh ôm cây đợi thỏ này lại
còn là người cố chấp bất thông, không hiểu thời thế, không thấu tình cảnh,
khư khư đười ươi giữ ống, cũng một phường với những hạng chơi đàn gắn
chặt phím, khắc mạn thuyền để nhớ chỗ gươm rơi.
https://thuviensach.vn
9. ĐÁNH DẤU THUYỀN TÌM GƯƠM
Có người nước Sở đi đò qua sông. Khi ngồi đò, vô ý đánh rơi thanh gươm
xuống sông. Anh ta vội vàng đánh dấu vào mạn thuyền, nói rằn
Mục lục
TIỂU TỰ
1. KHÔNG QUÊN ĐƯỢC CÁI CŨ
2. LÚC ĐI TRẮNG, LÚC VỀ ĐEN
3. LỢI MÊ LÒNG NGƯỜI
4. LẤY CỦA BAN NGÀY
5. KHỔ THÂN LÀM VIỆC NGHĨA
6. CÁCH CƯ XỬ Ở ĐỜI
7. TU THÂN
8. ÔM CÂY ĐỢI THỎ
9. ĐÁNH DẤU THUYỀN TÌM GƯƠM
10. BA CON RẬN KIỆN NHAU
11. HAI PHẢI
12. TĂNG SÂM GIẾT NGƯỜI
13. BÁN MỘC BÁN GIAO
14. NGỌC TRONG ĐÁ
15. BẮT CHƯỚC NHĂN MẶT
16. CÁI ĐƯỢC CÁI MẤT CỦA NGƯỜI LÀM QUAN
17. CAN VUA BỎ RƯỢU
18. KHÉO CAN ĐƯỢC VUA
19. CHẾT MÀ CÒN RĂN ĐƯỢC VUA
20. YÊU NÊN TỐT GHÉT NÊN XẤU
21. HÀ BÁ LẤY VỢ
22. GHÉT CON KHÔNG GIỐNG MÌNH
23. LỢN MẸ GIẾT CON
24. GIÁP ẤT TRANH LUẬN
25. MẶT TRỜI XA, GẦN
26. CÁCH PHỤC LÒNG NGƯỜI
27. LÒNG CƯƠNG TRỰC
28. TRÍ, TRUNG, DŨNG.
29. BIẾT LẼ NGƯỢC, XUÔI
30. TÀI NGHỆ CON LỪA
31. ĐÁNH ĐÀN
32. THỔI SÁO
https://thuviensach.vn
33. NGƯỜI NƯỚC LỖ SANG NƯỚC VIỆT
34. GIỮ LẤY NGHỀ MÌNH
35. CHUYỆN A LƯU
36. MẤT BÚA
37. TƯỜNG ÐỔ
38. NGƯỜI CON CÓ HIẾU
39. THẦY TĂNG SÂM
40. ÔNG QUAN THANH BẠCH
41. KHÔNG NHẬN CÁ
42. CỦA BÁU
43. BIẾT RÕ CHỮ "NGHĨA"
44. TRI KỶ
45. CẢM TÌNH
46. VÌ NGHĨA CÔNG, QUÊN THÙ RIÊNG
47. DUNG NGƯỜI ĐƯỢC BÁO
48. NÓI THÍ DỤ
49. CON CÚ MÈO VÀ CON CHIM GÁY
50. CON CÒ VÀ CON TRAI
51. HỒ MƯỢN OAI HỔ
52. MẠNH THƯỜNG QUÂN VÀO NƯỚC TẦN
53. THẬP BÌ NÓI CHUYỆN VỚI HUỆ VƯƠNG
54. THAM LỢI TRƯỚC MẮT, QUÊN HẠI SAU LƯNG
55. TRƯỚC KHI ĐÁNH NGƯỜI PHẢI BIẾT GIỮ MÌNH
56. KHÔNG NÊN SÁT PHẠT LẪN NHAU
57.DIỀU GỖ
58. LÁ DÓ
59.CHỮ TÍN
60. TỰ LÀM KHOAN KHOÁI
61. NGƯỜI KHÔN SỐNG LÂU
62. VỢ RĂN CHỒNG
63. BÀ HUYỆN CAN ĐẢM
64. THẾ NÀO LÀ TRUNG THẦN
65. BÁO THÙ
66. CÁCH DÙNG PHÁP LUẬT
67. THẬT GIẢ KHÓ PHÂN
68. TRUYỆN ĐƯỜI ƯƠI
69.THUẬT XEM TƯỚNG
https://thuviensach.vn
70. THEO AI PHẢI CẨN THẬN
71.SAY, TỈNH, ĐỤC, TRONG
72. NHAN SÚC NÓI TRUYỆN VỚI TỀ VƯƠNG
73.KHẤU CHUẨN THƯƠNG NHỚ MẸ
74. TÌNH MẸ CON CON VƯỢN
75. HỌC TRÒ BIẾT HỌC
76.PHÚC ĐẤY HỌA ĐẤY
77. HỌA PHÚC KHÔN LƯỜNG
78.VẼ GÌ KHÓ
79. CÁCH ĐÂM HỔ
80. ÂM NHẠC
81. TRÍ VÀ NHÂN
82. HẾT LÒNG VÌ NƯỚC
83. BỌ NGỰA CHỐNG XE
84. ỨNG ĐỐI LINH LỢI
85. THỬA GIÀY
86. CỨU NGƯỜI LÚC NGUY CẤP
87. NGHÈO MÀ KHÔNG OÁN
88. THÂN TRỌNG HƠN LÀM VUA
89. THÂN TRỌNG HƠN THIÊN HẠ
90. CHÚC MỪNG
91. NGƯỜI BÁN THỊT DÊ
92. THÀNH THỰC
93.MẸ HIỀN DẠY CON
94. NGỌC BÍCH HỌ HÒA
95. NUÔI GÀ CHỌI
96. DÙNG CHÓ BẮT CHUỘT
97. LỜI NGƯỜI BÁN CAM
98. VỢ CHỒNG NGƯỜI NƯỚC TỀ
99. ĐẦY THÌ ĐỔ
100. ÔNG LÃO BÁN DẦU
101. GẶP QUỈ
102. MUA NGHĨA
103. ỨNG ĐỐI GIỎI
104. HÀ CHÍNH MÃNH Ư HỔ
105. HANG NGU CÔNG
106.TRUNG HIẾU LƯỠNG TOÀN
https://thuviensach.vn
107. MONG LÀM ĐIỀU PHẢI
108. KẺ BẤT CHÍNH
109. NHÂN TRUNG DÀI THÌ SỐNG LÂU
110. THUỐC BẤT TỬ
111. CÁI LẼ SỐNG CHẾT
112. NÓI VỀ SỐNG CHẾT
113. BIẾT DỞ SỬA NGAY
114. TÀI BẤT TÀI
115. QUÊN CẢ CÁI THÂN
116. ĐẠI ĐỒNG
117.CẦU Ở MÌNH HƠN CẦU Ở NGƯỜI
118. HÒA THUẬN VỚI MỌI NGƯỜI
119. MẤT CUNG
120. MUÔN VẬT MỘT LOÀI
121.LÚC NÀO ĐƯỢC NGHỈ
122. CÓ CHỊU LO, CHỊU LÀM MỚI SỐNG ĐƯỢC
123. CHÍNH DANH
124. NÊN XỬ THẾ NÀO
125. CHIẾC THUYỀN ĐỤNG CHIẾC ĐÒ
126. RẮN RỜI CHỖ Ở
127. NHƯỜNG THIÊN HẠ
128. RỬA TAI
129. CHẾT ĐÓI ĐẦU NÚI
130. ĐỜI NGƯỜI
131. BA ĐIỀU KHÓ HỌC
132. BA ĐIỀU VUI
133. THƯƠNG MẸ GIÀ YẾU
134. ÁO ĐƠN MÙA RÉT
135. DÂNG THƯ CỨU CHA
136. NUÔI MẸ BẰNG ĐIỀU PHẢI
137. SAY BẮN CHẾT TRÂU
138. TÊN TÙ NƯỚC SỞ
139. BỆNH QUÊN
140. BỆNH MÊ
141. VỢ LẼ PHẢI ĐÒN
142. KHOÉT MẮT
143. VỢ XẤU
https://thuviensach.vn
144. GHEN CŨNG PHẢI YÊU
145. LỜI CON CAN CHA
146. MỘT CÁCH ĐỂ LẠI CHO CON CHÁU
147. MỘT CÁCH LO XA CHO CON CHÁU
148. HAI THẦY TRÒ DẠY NHAU
149. LƯỠI VẪN CÒN
150. KHÔNG CHỊU NHỤC
151. CÂU NÓI CỦA NGƯỜI ĐÁNH CÁ
152. VUA TÔI BÀN VIỆC
153. KHÓ ĐƯỢC YẾT KIẾN
154. KHÔNG PHỤC NƯỚC TẦN
155. CẬY NGƯỜI KHÔNG BẰNG CHẮC Ở MÌNH
156. PHẨM TRẬT ÔNG QUAN, PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
157.BÀI TRÂM CỦA NGƯỜI LÀM QUAN
158. CƯỜI NGƯỜI TA KHÓC
159. HIẾU TỬ, TRUNG THẦN
160. ĐỌC SÁCH CỔ
161. MẤT DÊ
162. THỰC HỌC
163. ĐÂY MỚI THẬT LÀ THẦY
164. BỎ QUÊN CON SINH
165. CHỌN NGƯỜI RỒI SAU HÃY GÂY DỰNG
166. CƠ TÂM
167. KHÔNG ĐỢI TRÔNG CŨNG BIẾT
168. KHINH NGƯỜI
169. HAI CÔ VỢ LẼ NGƯỜI NHÀ TRỌ
170. BA ĐIỀU PHẢI NGHĨ
171. LO, VUI
172. THẤY LỢI NGHĨ ĐẾN HẠI
173. THỦY CHUNG VỚI VỢ
174. ĐÁNG SỢ GÌ HƠN CẢ
175. CHỈ BIẾT CÓ MÌNH
176. THỞ DÀI
177. THẰNG ĐIÊN
178. NGƯỜI XUẤT TỤC
179. VỢ THẦY KIỆN
180. ÁC NGẦM
https://thuviensach.vn
181. BẢY CÔ VỢ LẼ
182. GÕ NHỊP MÀ HÁT
183. LIÊM, SỈ
184. TIỄN NGƯỜI ĐI LÀM QUAN
185. VIẾNG NGƯỜI ĐI LÀM QUAN
186. ĐỨC UỐNG RƯỢU
187. LÀNG SAY
188. TREO KIẾM BÊN MỘ
189. CHẾT VÌ LỄ NGHĨA HAY VÌ TÌNH
190. VÌ NGHĨA NÊN TÌNH
191. NGHĨA CÔNG NẶNG HƠN TÌNH RIÊNG
192. MẸ KHÔN CON GIỎI
193. TU TẠI GIA
194. NGƯỜI VỢ HIỀN MINH
195. TRỌNG NGHĨA KHINH TÀI
196. MUA XƯƠNG NGỰA
197. LỜI NÓI KẺ BẮT RẮN
198. HÒA VI QUÝ
199. CÁCH TRỊ DÂN
200. CAN GÌ MÀ PHÁ ĐI
201. HAY DỞ ĐỀU DO MÌNH CẢ
202. NGỤY BIỆN
203. KHÔNG CHỊU THEO KẺ PHẢN NGHỊCH
204. CÁCH CƯ XỬ Ở ĐỜI
205. TỰ XÉT LẠI MÌNH
206. KHÔNG NÊN CÂU NỆ
207. TRI KỶ
208. TRỒNG KHÓ, NHỔ DỄ
209. NGƯỜI KIẾM CỦI ĐƯỢC CON HƯƠU
210. HỎI THĂM DÂN
211. DÂN QUÍ NHẤT
212. NHUỘM TƠ
213. KÉO LÊ ĐUÔI MÀ ĐI
214. PHẢI BIẾT PHÒNG XA
215. MỘT CÂU ĐOÁN ĐÚNG
216. CÙNG, ĐẠT BỞI SỐ
217. THƯ VIẾT RĂN CON
https://thuviensach.vn
218. VIẾT THƯ KHUYÊN BẠN
219. THƯ VIẾT CHO BẠN
220. THAM THÌ CHẾT
221. THAM VÌ BỊ HẠI
222. PHÂN TÍCH KHÔNG RÕ
223. KHÔNG YÊU NHAU MỚI LOẠN
224.CŨNG LÀ ĂN TRỘM
225. LƠ TRỜI ĐỔ
226. DÙNG RƯỢU SAY ĐỂ KHIẾN CHỒNG
227. TƯỚI DƯA CHO NGƯỜI
228. CÁCH BIẾT LÒNG NGƯỜI
229. CÁCH LÀM CHO KHỎI TỨC GIẬN
230. TIỄN MỘT LỜI NÓI
231. QUÝ LỜI NÓI PHẢI
232. TƯ TƯỞNG LÃO TỬ
233. LÀM NHÀ CỎ CŨNG ĐỦ
234. THẾ NÀO LÀ ĐẠI TRƯỢNG PHU
235. THIÊN HẠ SĨ
236. DỰ NHƯỢNG BÁO THÙ
237. QUAN TÀI CON
238. LỆCH THỪA KHÔNG BẰNG NGAY THIẾU
239. BẮT THAY CHIẾU
240. ĐÁM MA TO
241. MUÔN VẬT MỘT THỂ
242. TỰ TỈNH
243. NGU CÔNG DỌN NÚI
DANH NGÔN DANH LÝ
LỜI BẠT
https://thuviensach.vn
TIỂU TỰ
“Có mới, nới cũ” thường tình vẫn thế. Tân học mỗi ngày một tiến, tất Cựu
học phải lùi và có khi sợ rồi mai một đi mất. Nhưng, Tân học mà hay, tất là
Tân học có một nền tảng vững chắc. Nền tảng ấy tức là tinh hoa của Cựu học.
Cựu học nước nhà là một thứ học trải qua bao nhiêu đời, đã làm cho ông cha
ta phù thực được cương thường, chấn chỉnh được phong hóa, bảo tồn được
quốc thể, duy trì được thế đạo nhân tâm, thật không phải là một cái Học
không có giá trị đáng khinh rẻ hay quên bỏ được. Vả chăng: "Tri kim, nhi bất
tri cổ, vị chi manh cổ; tri cổ, nhi bất tri kim, vị tri lục trầm" ta đã biết truyện
đời nay, ta lại cần phải học truyện đời xưa, ta ôn lại việc đời xưa mà ta rõ
được việc đời nay, có như thế, thì cái Học của ta mới không đến nỗi khiếm
khuyết. Vì, tuy chia làm cổ, kim, nhưng chẳng qua cũng chỉ là buổi sớm, buổi
chiều trong một ngày của trời đất, kẻ học giả mà câu nệ chấp nhất, chỉ biết cổ
không muốn biết kim, hay chỉ biết kim không muốn biết cổ, thì sao gọi là
"bác cổ thông kim" được!
Cựu học của ta là gì? Cựu học của ta tức là Hán học nghĩa là một cái Học
chung cho cả mấy dân tộc ở Á Đông đã chịu cái văn hóa của giống người
Hán, tức là người Trung Hoa. Cựu học không phải là chỉ có Tứ Thư, Ngũ
Kinh, xưa kia đa số quen dùng làm cái học cử nghiệp mà thôi. Ngoại giả, còn
Bác gia chư tử thật là man mác rộng như bể, học thuyết đủ mọi mặt, lý tưởng
rất sâu xa, muốn học cho tới nơi, phải mất bao nhiêu công phu, thời giờ mới
được. Nay, chúng tôi biên tập quyển sách nầy, không phải là muốn chuyên
tâm nghiên cứu riêng một phái nào hay một nhà nào. Chúng tôi chỉ góp nhặt
một đôi chút lý tưởng trong Cổ học gọi là để cho người đọc thiệp liệp qua
được một ít tinh hoa của lối học cũ mà thôi. Nên chúng tôi mới lạm dụng bốn
chữ "Cổ Học Tinh Hoa" làm nhan sách.
Chúng tôi có ý chọn những bài ngắn mà nghĩa lý hàm súc dồi dào. Những
bài ấy tuy là truyện từ đời xưa bên Tàu, nhưng ứng dụng vào đời nào và ở
đâu cũng được. Vì truyện tuy cổ, nhưng cái chân lý thì bao giờ cũng là một,
mà bao giờ cũng như mới. Nào hiếu đệ, nào trung tín, nào lễ nghĩa, nào liêm
sĩ, đến cả những việc kỳ quái, sinh tử; bài nầy chính giọng huấn giáo, bài kia
rõ thể ngụ ngôn, truyện nầy nghiêm trang khắc khổ, truyện kia khôi hài lý
thú; đức Khổng nói "Nhân" hồn nhiên như hóa công; ông Mạnh bàn "Nghĩa"
chơm chởm như núi đá, Tuân Tử nói "Lễ" thật là đường bệ, Mặc Tử nói "Ái"
thật là rộng rãi, hình danh như Hàn phi tử thật là nghiêm nghị khiến người
mất bụng làm xằng, ngôn luận như Án Tử thật là thâm thiết khiến người dễ
https://thuviensach.vn
đường tỉnh ngộ, đến nói đạo đức như Lão Tử, bàn khoáng đạt như Trang Tử
thật lại biến hóa như rồng, phấp phới như mây... các lý thuyết mỗi nhà một
khác, có khi phản đối hẳn nhau, nhưng thực khiến cho người đọc vừa được
vui, vừa phải đem tâm suy nghĩ.
Dịch những bài văn như thế, chúng tôi lấy làm rất khó. Chẳng những chữ
Hán dịch ra chữ Nam, lắm câu không hết được nghĩa, nhiều bài, chính
nguyên văn cũng mỗi nơi chép một khác không lấy gì làm xác định. Nên khi
dịch, chúng tôi phải châm chước cân nhắc từng bài, bài thì địch thẳng nguyên
văn, bài thì chỉ dịch lấy đại ý, hoặc có bài phải rút bớt, hay thêm ra, hay đúc
lại, cốt cho nó xuông tiếng Nam mà không hại đến nghĩa bài thì thôi. Dịch
Hán văn ra quốc văn, tất phải dùng nhiều chữ Hán. Song chữ nào bất đắc dĩ
phải dùng, thì ở dưới chúng tôi đã có "giải nghĩa" rõ ràng. Nghĩa ấy thường
chỉ là nghĩa riêng trong bài, chớ không phải hết mọi nghĩa của từng chữ.
Những tên người, tên đất, muốn cho tinh tường, đáng lẽ phải có một cái
biểu liệt đủ tên những tác giả cùng những người nói trong chuyện và một bức
địa đồ Trung Hoa trải qua các thời đại. Nhưng việc ấy xin để nhường những
nhà chuyên về Bắc sử sau nầy, đây chúng tôi chỉ chua qua để cho độc giả đủ
biết cái đại cương mà thôi. Đọc một bài văn hay, mà tư tưởng đã thấm thía
vào tâm não, thì tất không sao để yên ngòi bút mà không phê bình được. Đó
cũng là một cái thông bệnh của những người hâm mộ văn chương hay có cái
thú ngâm nga và đưa ngòi bút khuyên liền, khuyên kín vậy. Chúng tôi cũng
không tránh khỏi cái bệnh ấy. Nên dưới mỗi bài chúng tôi cũng góp "Lời
Bàn", cốt là để giải rõ các đại ý trong bài hoặc lạm bình một, đôi câu ứng với
cái thời buổi bây giờ.
Chúng tôi mạo muội biên dịch quyển sách nầy là quyển đầu, có ý bảo tồn
tinh hoa của cổ học và mong các bạn thiếu niên ta nhớ đến nguồn gốc từ bao
nghiêu nghìn năm về trước, rõ các điển tích thường dẫn trong văn chương
nước nhà, thêm trước được ít tài liệu có khi làm văn phải dùng đến, rộng
được ít tri thức tuy thuộc về Cổ học mà thật khác nào "như thóc gạo, như vải
lụa", thường cần đến hàng ngày. Nếu quyển sách này, giúp được một phần
trong muôn phần ấy, thì chúng tôi lấy làm hoan hỷ lắm vậy.
Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm Ất Sửu (1925)
Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc
Từ An Trần Lê Nhân
https://thuviensach.vn
1. KHÔNG QUÊN ĐƯỢC CÁI CŨ
Đức Khổng tử ra chơi ngoài đồng, thấy một người đàn bà đứng khóc nỉ
non ở chỗ bờ đầm. Đức Khổng tử lấy làm lạ, bảo học trò hỏi vì cớ gì mà
khóc. Người đàn bà nói: "Độ trước tôi cắt cỏ thi, tôi đánh mất cái trâm cài
đầu bằng cỏ thi, cho nên tôi khóc." Đức Khổng tử hỏi: Đi cắt cỏ thi, mà mất
cái trâm bằng cỏ, thì việc gì mà phải khóc? Người đàn bà nói: Không phải vì
tôi đánh mất cái trâm cỏ thi mà tôi khóc; tôi sở dĩ khóc, là tôi thương tiếc một
vật cũ, dùng đã lâu, mà ngày nay không sao thấy được nữa.
GIẢI NGHĨA
Khổng Tử Tập Ngữ: sách chép những lời nói, những truyện về đức Khổng
Tử.
Khổng Tử tên là Khưa, tên tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, thời Xuân Thu
nhà Chu, học về Lễ, Nhạc, Văn chương đời cỗ, đi nhiều nước chư hầu không
được dụng bỏ về làm kinh Xuân Thu, san định các kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ,
Nhạc và dạy học trò được ba nghìn người, có bảy mươi hai người giỏi. Nước
Tàu xưng làm Tổ đạo Nho.
LỜI BÀN
Cái gì đã là của mình, mình có bụng yêu, mà lỡ khi mất, thì về sau dù có
được cái khác giống như thế, hay hơn thế, mình cũng không thể sao yêu cho
bằng. Thường, lại chỉ vì thấy cái mới mà hồi nhớ đến cái cũ, sinh ra chạnh
lòng, nên câu ta thán, có khi ngậm ngùi thương khóc nỉ non. Tại sao vậy? Tại
đối với mình, cái của mất không chỉ có giá của mà thôi, lại hình như còn có
một phần tâm hồn mình hay tâm hồn người để lại cho mình ngụ ở trong nữa.
Sự cảm động đầu tiên bao giờ cũng là sự cảm động hay nhất, bền nhất. Ôi!
Cáo chết ba năm quay đầu về núi, con người ta, dù cho lông bông xiêu bạt
đến thế nào, còn có chút tâm tình cũng không sao quên được gốc tích xứ sở
mình. "Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi". Con ngựa rợ Hồ (phía
bắc nước Tàu) thấy gió bắc còn cất tiếng kêu, con chim đất Việt (phía nam
nước Tàu) chọn cành nam mới chịu làm tổ, huống chi là người mà lại quên
được nguồn gốc ư.
https://thuviensach.vn
2. LÚC ĐI TRẮNG, LÚC VỀ ĐEN
Một hôm trời nắng Dương Bố đi chơi. Khi ở nhà ra, thì mặc áo trắng, đi
được nửa đường, gặp trời mưa, quần áo ướt hết, mới vào ẩn mưa ở nhà bà
con. Người ấy thấy Dương Bố ướt cả cho mượn cái áo thâm.
Một lúc trời tạnh, Dương Bố mặc áo thâm về nhà. Con chó trông thấy, vừa
cắn vừa xua đuổi. Dương Bố giận toan cầm gậy đánh.
Anh là Dương Chu chạy ra bảo:
"Đừng đánh nó làm gì! Nó đuổi như thế cũng phải. Giả sử con chó trắng
nhà ta, lúc đi, thì trắng, lúc về thì đen, phỏng em có không lấy làm lạ mà
không ngờ được không?"
GIẢI NGHĨA
Liệt Tử: sách của Liệt Ngữ Khấu hay người truyền học thuyết của Liệt
Ngữ Khấu soạn ra, có tám quyển, sau nhà Đường, nhà Tống đặt tên là Sung
Hư Chân Kinh, hay Sung Hu chí đức chân kinh.
LỜI BÀN
Lúc đi mặc áo trắng, lúc về mặc áo thâm, chính mình không biết mình thay
đổi, con chó thấy khác thì xua đuổi. Mình đánh nó chẳng hóa ra lầm lắm ru!
Lỗi tại mình thay đổi không tại con chó cắn xằng. Vậy nên ở đời khi mình
làm điều gì khác thường, mà người ta không rõ, thì tất nhiên người ta bàn trái
bàn phải. Nếu mình không tự xét mình thay đổi hay dở, chỉ biết trách người
nghị luận nọ kia, thì chẳng khác nào như Dương Bố đánh chó trong truyện
này.
https://thuviensach.vn
3. LỢI MÊ LÒNG NGƯỜI
Nước Tống có kẻ mất cái áo thâm. Anh ta ra đường tìm. Thấy người đàn
bà mặc áo thâm, níu lại đòi rằng: “Tôi vừa mất cái áo thâm, chị phải đền trả
tôi cái này”. Rồi cứ giữ chặt cái áo không buông ra nữa.
Người đàn bà cãi: “Ông mất cái áo thâm, tôi biết đấy là đâu. Áo tôi mặc
đây là áo của tôi, chính tay tôi may ra”.
Anh kia nói: “Chị cứ phải đền trả áo cho tôi. Cái áo thâm tôi mất dày, cái
áo thâm chị mặc mỏng. Lấy áo thâm mỏng của chị đền cái áo thâm dày cho
tôi, còn phải nói lôi thôi gì nữa!”
(Tử Hoa Tử)
GIẢI NGHĨA
Nước Tống: Một nước chư hầu thời Xuân Thu, sau bị nước Tề lấy mất, ở
vào huyện Thuợng Khưu tỉnh Hà Nam bây giờ.
Thâm: Sắc đen.
Níu: Giằng dai giữ lại không cho đi.
LỜI BÀN
Mất áo trong nhà mà ra đường tìm, đã là chuyện bật cười. Mất áo đàn ông
mà đòi áo đàn bà lại là chuyện bật cười. Mất áo thâm dày bắt đền áo thâm
mỏng mà cho là phải, lại là chuyện bật cười nữa. Ôi cái lợi nó làm cho lòng
người mê muội, chỉ biết có mình không biết có ai, chỉ vụ lợi cho mình mà
quên cả phải tráị Kẻ nào đã vụ lợi như thế, thì cái gì mà chẳng dám làm, cái
gì mà chả dám nói! Than ôi! Cái đời kim tiền bây giờ biết bao nhiêu phường
đòi áo như người nói trong truyện này.
https://thuviensach.vn
4. LẤY CỦA BAN NGÀY
Nước Tấn có kẻ hiếu lợi một hôm ra chợ gặp cái gì cũng lấy. Anh ta nói
rằng: "Cái này tôi ăn được, cái này tôi mặc được, cái này tôi tiêu được, cái
này tôi dùng được." Lấy rồi đem đi. Người ta theo đòi tiền. Anh ta nói: "Lửa
tham nó bốc lên mờ cả hai con mắt. Bao nhiêu hàng hóa trong chợ tôi cứ
tưởng của tôi cả, không còn trông thấy ai nữa. Thôi, các người cứ cho tôi, sau
nầy tôi giàu có, tôi sẽ đem tiền trả lại". Người coi chợ thấy càn dỡ, đánh cho
mấy roi, bắt của ai phải trả lại cho người ấy. Cả chợ cười ồ. Anh ta mắng:
"Thế gian còn nhiều kẻ hiếu lợi hơn ta, thường dụng thiên phương, bách kế
ngấm ngầm lấy của của người. Ta đây tuy thế, song lấy giữa ban ngày so với
những kẻ ấy thì lại chẳng hơn ư? Các ngươi cười ta là các người chưa nghĩ
kỹ!"
GIẢI NGHĨA
Long Môn Tử: tức là Tư Mã Thiên làm quan Thái Sư nhà Hán là một nhà
sử ký có danh.
Hiếu lợi: ham tiền của quên cả phải trái.
Lửa tham: lòng tham muốn bốc lên làm ngốt người.
Mờ cả hai con mắt: chỉ để cả vào của muốn lấy, ngoài ra không trông thấy
gì nữa.
Thế gian: cõi đời người ta ở.
Thiên phương bách kế: mưu này, chước khác xoay đủ trăm nghìn cấp.
Ban ngày: lúc sáng sủa dễ trông thấy.
LỜI BÀN
Đã là kẻ thấy của tối mắt, tham vàng bỏ nghĩa, thì dù ít, dù nhiều cũng là
đáng khinh cả, song đem những kẻ mặt to, tai lớn, vì ham mê phú quý mà
lường thầy, phản bạn, hại ngầm đồng bào so với những quân cắp đường, cắp
chợ giữa ban ngày để nuôi miệng thì tội đến nặng hơn biết bao nhiêu. Thế mà
trách đời chỉ biết chê cười những quân trộm cướp vặt chớ không biết trừng trị
những kẻ đại gian đại ác.
https://thuviensach.vn
5. KHỔ THÂN LÀM VIỆC NGHĨA
Mặc Tử ở nước Lỗ sang nước Tề, qua nhà người bạn cũ, vào chơi. Người
bạn nói chuyện với Mặc Tử rằng: "Bây giờ thiên hạ ai còn thiết đến việc
"nghĩa", một mình ông tự khổ thân để làm việc nghĩa, thì có thấm vào đâu!
Chẳng thà thôi đi có hơn không? - Mặc Tử nói: "Bây giờ có người ở đây, nhà
mười đứa con, một đứa cày, chín đứa ngồi ăn không, thì đứa cày chẳng nên
càng chăm cày hơn lên ư? Tại sao thế? Tại đứa ăn không nhiều, đứa đi cày ít.
Bây giờ thiên hạ chẳng ai chịu làm việc nghĩa, thì ông phải biết khuyên tôi
càng làm lắm mới phải, có đâu lại ngăn tôi như thế!"
GIẢI NGHĨA
Mặc Tử: tên sách của Mặc Địch soạn, chủ nghĩa là kiêm ái yêu người như
yêu mình cũng gần giống chủ nghĩa của đạo Cơ Đốc và đạo Thích Ca.
Tề: một nước chư hầu lớn, thời Xuân Thu Chiến Quốc, cũng ở vào địa
phận tỉnh Sơn Đông bây giờ.
Nghĩa: việc phải, việc hay mà người ta nên làm.
Tự khổ thân: tự mình làm cho mình khóc nhọc vất vả.
LỜI BÀN
Trong khi nhân tâm thế đạo suy đồi, mình là người còn đứng vững được,
thì sao lại chịu suy đồi với thiên hạ cho cùng trôi một loạt. Vì nếu ai cũng
như thế cả, thì còn đâu là người cảnh tỉnh được kẻ u mê để duy trì lấy nhân
tâm thế đạo nữa? Cho nên những người thức thời, có chí, dù ở vào cái đời
biến loạn đến đâu, cũng không chịu đắm đuối vào cái bất nghĩa, khác nào
như: cây tòng, cây bách, mùa đông sương tuyết, mà vẫn xanh, như con gà
trống, mưa gió tối tăm mà vẫn gáy. Những bậc ấy chẳng những thế mà thôi,
lại còn đem bao nhiêu tinh lực tâm trí ra, cố gắng giữ lấy phong hóa mà dìu
dắt, mà đưa đường cho những kẻ u mê đắm đuối. Như Mặc Tử đây, cho là
đời là suy biến, coi sự làm việc "Nghĩa", sự cổ động việc nghĩa như cái chức
vụ của mình phải làm, thực là người có công với loài người vậy.
https://thuviensach.vn
6. CÁCH CƯ XỬ Ở ĐỜI
Thầy Nhan Uyên, hỏi Đức Khổng Tử: "Hồi này muốn nghèo mà cũng
được như giàu, hèn mà cũng được như sang, không phải khỏe mà có oai, chơi
bời với người ta suốt đời không lo sợ gì, muốn như vậy, có nên không?"
Đức Khổng Tử nói: "Người hỏi thể phải lắm. Nghèo, mà muốn cũng như
giàu, thế là biết bằng lòng số phận không ham mê gì. Hèn, mà cũng muốn
như sang, thế là biết nhún nhường và có lễ độ. Không khỏe, mà muốn có oai,
thế là biết thận trọng, cung kính không lầm lỗi gì. Chơi bời với mọi người mà
muốn suốt đời không lo sợ, thế là biết chọn lời rồi mới nói.
Khổng Tử Tập Ngữ
GIẢI NGHĨA
Khổng Tử Tập Ngữ: sách chép những lời nói, những truyện về đức Khổng
Tử. - Khổng Tử tên là Khưa, tên tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, thời Xuân
Thu nhà Chu, học về Lễ, Nhạc, Văn chương đời cỗ, đi nhiều nước chư hầu
không được dụng bỏ về làm kinh Xuân Thu, san định các kinh Thi, Thư,
Dịch, Lễ, Nhạc và dạy học trò được ba nghìn người, có bảy mươi hai người
giỏi. Nước Tàu xưng làm Tổ đạo Nho.
Nhan Uyên: tên là Hồi, người nước Lỗ, thời Xuân Thu, học trò giỏi nhất
của Đức Khổng Tử.
Hồi: theo lễ xưa, hầu chuyện những bậc trên, như vua, cha, thầy học,
thường hay xưng tên.
Lễ độ: phép tắc mực thước.
Thận trọng: cẩn thận, trọng hậu.
LỜI BÀN
Không cần công danh phú quí thế là biết giữ thiên tước hơn là nhân tước,
không để ai khinh lờn được, thế là biết trọng phẩm giá mình, không muốn
đeo cái lo vào mình, thế là biết giữ thân không phiền lụy đến ai. Ở đời mà giữ
trọn vẹn được mấy điều như thế, tưởng thật là một cách vui thú rất cao
thượng vậy.
https://thuviensach.vn
7. TU THÂN
Thấy người hay, thì phải cố mà bắt chước; thấy người dở thì phải tự xét
xem có dở như thế không để mà sửa đổi. Chính mình có điều hay, thì phải cố
mà giữ lấy; chính mình có điều dở, thì phải cố mà trừ đi.
Người chê ta, mà chê phải, tức là thầy ta; người khen ta, mà khen phải, tức
là bạn ta; còn người nịnh hót ta lại là người cừu địch hại ta vậy. Cho nên
người quân tử trọng thầy, quí bạn và rất ghét cừu địch, thích điều phải mà
không chán, nghe lời can mà biết răn... như thế dù muốn không hay cũng
không được.
Kẻ tiểu nhân thì không thế. Cực bậy, mà lại ghét người chê mình; rất dở,
mà lại thích người khen mình; bụng dạ như hổ lang, ăn ở như cầm thú, mà
thấy người ta không phục, lại không bằng lòng; thân với kẻ siểm nịnh, xa
cách kẻ can ngăn, thấy người chính trực thì cười, thấy người trung tín thì
chê... Như thế thì dù muốn không dở cũng không được.
Tuân Tử
GIẢI NGHĨA
Tuân Tử: tên thật là Huống, tên tự là Khanh, người nước Triệu, sinh ra sau
Mạnh Tử độ 50 năm, thấy đời bấy giờ cứ loạn luôn mãi và phong hóa suy
đồi, làm sách nói về lễ nghĩa, lễ nhạc, cốt ý để chỉnh đức và hành đạo.
Quân tử: Người có tài đức hơn người.
Tiểu nhân: Kẻ bất chính, gian ác, tự tư, tự lợi.
Cầm thú: cầm: giống có hai chân và hai cánh; thú: giống có bốn chân, hai
chữ chỉ loài chim và loài muông.
Chính trực: ngay thẳng.
Trung tín: hết lòng, thật bụng.
LỜI BÀN
Cái đạo tu thân rút lại chỉ có biết theo điều hay, biết tránh điều dở. Mà
muốn tới cái mục đích ấy, thì không những là tự mình phải xét mình lại còn
phải xét cái cách người ở với mình nữa. Đối với người, cần phải biết hai điều:
Ai khen chê phải, khuyên răn hay, thì phục, thì bắt chước; ai chiều lòng nịnh
hót, thì tránh cho xa, coi như quân cừu địch. "Nên ưa người ta khuyên mình
hơn người ta khen mình" có như thế, thì mới tu thân được.
https://thuviensach.vn
8. ÔM CÂY ĐỢI THỎ
Một người nước Tống đang cày ruộng. Giữa ruộng có một cây to. Có con
thỏ đồng ở đâu chạy lại, đâm vào gốc cây, đập đầu chết. Người cày ruộng
thấy thế, bỏ cày, vội chạy đi bắt thỏ. Đoạn, cứ ngồi khư khư ôm gốc cây,
mong lại được thỏ nữa. Nhưng đợi mãi chẳng thấy thỏ đâu, lại mất một buổi
cày. Thiên hạ thấy vậy, ai cũng chê cười.
Hàn Phi Tử
GIẢI NGHĨA
Hàn Phi Tử: Công tử nước Hàn, học trò Tuân Tử chuyên về bình danh
pháp luật, nước Hàn không dùng, sang ở nước Tần, được đại dụng, nhưng sau
bị kẻ gièm pha, rồi tự tử. Sách của Hàn Phi Tử có 50 thiên, đặt tên Hàn Tử.
Nhà Tống sau thêm chữ Phi để khỏi lầm lẫn với Hàn Dũ.
Đoạn: nghĩa đen là đứt, việc nầy đứt đến việc khác.
LỜI BÀN
Thấy mùi, quen mui làm mãi. Ở đời những kẻ ngẫu nhiên gặp may, mà ước
ao được gặp may luôn như thế nữa, không biết sự may là tình cờ mới có, thì
có khác gì người nước Tống ôm cây đợi thỏ nầy. Anh ôm cây đợi thỏ này lại
còn là người cố chấp bất thông, không hiểu thời thế, không thấu tình cảnh,
khư khư đười ươi giữ ống, cũng một phường với những hạng chơi đàn gắn
chặt phím, khắc mạn thuyền để nhớ chỗ gươm rơi.
https://thuviensach.vn
9. ĐÁNH DẤU THUYỀN TÌM GƯƠM
Có người nước Sở đi đò qua sông. Khi ngồi đò, vô ý đánh rơi thanh gươm
xuống sông. Anh ta vội vàng đánh dấu vào mạn thuyền, nói rằn
 





