Tài nguyên THƯ VIỆN

GÓC LỊCH SỬ- tự hào việt nam

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bản tin thư viện

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    486535576_687504323842812_4192407978136768961_n.jpg 486500788_687500893843155_8917663302820642951_n.jpg 486401439_687500637176514_6347543047210448692_n.jpg 486294196_687501327176445_6249731343958734534_n.jpg 486256531_687505017176076_4698278582158444056_n.jpg 486146484_687504613842783_7808117533976263193_n.jpg 486140471_687504337176144_5997173459261202020_n.jpg 486128752_687501447176433_2153146775747211441_n.jpg 486117905_687501973843047_5705350894154693155_n.jpg 486108360_687500860509825_7055729163068952091_n.jpg 486100845_687500907176487_7489795251974386868_n.jpg 486035662_687502307176347_2028289640818027344_n.jpg 486024179_687504430509468_37485015750359318_n.jpg 486011789_687502430509668_5915568254882798963_n.jpg 485931918_687500883843156_1958291412881915226_n.jpg 485926560_687504983842746_1036604437140465450_n.jpg 485926242_687504607176117_474982271559330172_n.jpg 485901515_687501970509714_3422404357053098050_n.jpg 485897349_687502257176352_7447090423107471980_n.jpg 485879015_687504650509446_564184650854094885_n.jpg

    sách nói

    Tủ sách kỹ năng sống

    Góc an toàn giao thông

    Please come in

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG - XÃ THANH MIỆN - TP HẢI PHÒNG

    THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG GIỚI THIỆU SÁCH CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 26/3

    Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường Tiểu học Tứ Cường- Xã Thanh Miện- Thành phố Hải Phòng

    Cổ học tinh hoa

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vương Thị Thu Hà
    Ngày gửi: 14h:22' 26-12-2025
    Dung lượng: 1.2 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Mục lục
    TIỂU TỰ
    1. KHÔNG QUÊN ĐƯỢC CÁI CŨ
    2. LÚC ĐI TRẮNG, LÚC VỀ ĐEN
    3. LỢI MÊ LÒNG NGƯỜI
    4. LẤY CỦA BAN NGÀY
    5. KHỔ THÂN LÀM VIỆC NGHĨA
    6. CÁCH CƯ XỬ Ở ĐỜI
    7. TU THÂN
    8. ÔM CÂY ĐỢI THỎ
    9. ĐÁNH DẤU THUYỀN TÌM GƯƠM
    10. BA CON RẬN KIỆN NHAU
    11. HAI PHẢI
    12. TĂNG SÂM GIẾT NGƯỜI
    13. BÁN MỘC BÁN GIAO
    14. NGỌC TRONG ĐÁ
    15. BẮT CHƯỚC NHĂN MẶT
    16. CÁI ĐƯỢC CÁI MẤT CỦA NGƯỜI LÀM QUAN
    17. CAN VUA BỎ RƯỢU
    18. KHÉO CAN ĐƯỢC VUA
    19. CHẾT MÀ CÒN RĂN ĐƯỢC VUA
    20. YÊU NÊN TỐT GHÉT NÊN XẤU
    21. HÀ BÁ LẤY VỢ
    22. GHÉT CON KHÔNG GIỐNG MÌNH
    23. LỢN MẸ GIẾT CON
    24. GIÁP ẤT TRANH LUẬN
    25. MẶT TRỜI XA, GẦN
    26. CÁCH PHỤC LÒNG NGƯỜI
    27. LÒNG CƯƠNG TRỰC
    28. TRÍ, TRUNG, DŨNG.
    29. BIẾT LẼ NGƯỢC, XUÔI
    30. TÀI NGHỆ CON LỪA
    31. ĐÁNH ĐÀN
    32. THỔI SÁO

    https://thuviensach.vn

    33. NGƯỜI NƯỚC LỖ SANG NƯỚC VIỆT
    34. GIỮ LẤY NGHỀ MÌNH
    35. CHUYỆN A LƯU
    36. MẤT BÚA
    37. TƯỜNG ÐỔ
    38. NGƯỜI CON CÓ HIẾU
    39. THẦY TĂNG SÂM
    40. ÔNG QUAN THANH BẠCH
    41. KHÔNG NHẬN CÁ
    42. CỦA BÁU
    43. BIẾT RÕ CHỮ "NGHĨA"
    44. TRI KỶ
    45. CẢM TÌNH
    46. VÌ NGHĨA CÔNG, QUÊN THÙ RIÊNG
    47. DUNG NGƯỜI ĐƯỢC BÁO
    48. NÓI THÍ DỤ
    49. CON CÚ MÈO VÀ CON CHIM GÁY
    50. CON CÒ VÀ CON TRAI
    51. HỒ MƯỢN OAI HỔ
    52. MẠNH THƯỜNG QUÂN VÀO NƯỚC TẦN
    53. THẬP BÌ NÓI CHUYỆN VỚI HUỆ VƯƠNG
    54. THAM LỢI TRƯỚC MẮT, QUÊN HẠI SAU LƯNG
    55. TRƯỚC KHI ĐÁNH NGƯỜI PHẢI BIẾT GIỮ MÌNH
    56. KHÔNG NÊN SÁT PHẠT LẪN NHAU
    57.DIỀU GỖ
    58. LÁ DÓ
    59.CHỮ TÍN
    60. TỰ LÀM KHOAN KHOÁI
    61. NGƯỜI KHÔN SỐNG LÂU
    62. VỢ RĂN CHỒNG
    63. BÀ HUYỆN CAN ĐẢM
    64. THẾ NÀO LÀ TRUNG THẦN
    65. BÁO THÙ
    66. CÁCH DÙNG PHÁP LUẬT
    67. THẬT GIẢ KHÓ PHÂN
    68. TRUYỆN ĐƯỜI ƯƠI
    69.THUẬT XEM TƯỚNG

    https://thuviensach.vn

    70. THEO AI PHẢI CẨN THẬN
    71.SAY, TỈNH, ĐỤC, TRONG
    72. NHAN SÚC NÓI TRUYỆN VỚI TỀ VƯƠNG
    73.KHẤU CHUẨN THƯƠNG NHỚ MẸ
    74. TÌNH MẸ CON CON VƯỢN
    75. HỌC TRÒ BIẾT HỌC
    76.PHÚC ĐẤY HỌA ĐẤY
    77. HỌA PHÚC KHÔN LƯỜNG
    78.VẼ GÌ KHÓ
    79. CÁCH ĐÂM HỔ
    80. ÂM NHẠC
    81. TRÍ VÀ NHÂN
    82. HẾT LÒNG VÌ NƯỚC
    83. BỌ NGỰA CHỐNG XE
    84. ỨNG ĐỐI LINH LỢI
    85. THỬA GIÀY
    86. CỨU NGƯỜI LÚC NGUY CẤP
    87. NGHÈO MÀ KHÔNG OÁN
    88. THÂN TRỌNG HƠN LÀM VUA
    89. THÂN TRỌNG HƠN THIÊN HẠ
    90. CHÚC MỪNG
    91. NGƯỜI BÁN THỊT DÊ
    92. THÀNH THỰC
    93.MẸ HIỀN DẠY CON
    94. NGỌC BÍCH HỌ HÒA
    95. NUÔI GÀ CHỌI
    96. DÙNG CHÓ BẮT CHUỘT
    97. LỜI NGƯỜI BÁN CAM
    98. VỢ CHỒNG NGƯỜI NƯỚC TỀ
    99. ĐẦY THÌ ĐỔ
    100. ÔNG LÃO BÁN DẦU
    101. GẶP QUỈ
    102. MUA NGHĨA
    103. ỨNG ĐỐI GIỎI
    104. HÀ CHÍNH MÃNH Ư HỔ
    105. HANG NGU CÔNG
    106.TRUNG HIẾU LƯỠNG TOÀN

    https://thuviensach.vn

    107. MONG LÀM ĐIỀU PHẢI
    108. KẺ BẤT CHÍNH
    109. NHÂN TRUNG DÀI THÌ SỐNG LÂU
    110. THUỐC BẤT TỬ
    111. CÁI LẼ SỐNG CHẾT
    112. NÓI VỀ SỐNG CHẾT
    113. BIẾT DỞ SỬA NGAY
    114. TÀI BẤT TÀI
    115. QUÊN CẢ CÁI THÂN
    116. ĐẠI ĐỒNG
    117.CẦU Ở MÌNH HƠN CẦU Ở NGƯỜI
    118. HÒA THUẬN VỚI MỌI NGƯỜI
    119. MẤT CUNG
    120. MUÔN VẬT MỘT LOÀI
    121.LÚC NÀO ĐƯỢC NGHỈ
    122. CÓ CHỊU LO, CHỊU LÀM MỚI SỐNG ĐƯỢC
    123. CHÍNH DANH
    124. NÊN XỬ THẾ NÀO
    125. CHIẾC THUYỀN ĐỤNG CHIẾC ĐÒ
    126. RẮN RỜI CHỖ Ở
    127. NHƯỜNG THIÊN HẠ
    128. RỬA TAI
    129. CHẾT ĐÓI ĐẦU NÚI
    130. ĐỜI NGƯỜI
    131. BA ĐIỀU KHÓ HỌC
    132. BA ĐIỀU VUI
    133. THƯƠNG MẸ GIÀ YẾU
    134. ÁO ĐƠN MÙA RÉT
    135. DÂNG THƯ CỨU CHA
    136. NUÔI MẸ BẰNG ĐIỀU PHẢI
    137. SAY BẮN CHẾT TRÂU
    138. TÊN TÙ NƯỚC SỞ
    139. BỆNH QUÊN
    140. BỆNH MÊ
    141. VỢ LẼ PHẢI ĐÒN
    142. KHOÉT MẮT
    143. VỢ XẤU

    https://thuviensach.vn

    144. GHEN CŨNG PHẢI YÊU
    145. LỜI CON CAN CHA
    146. MỘT CÁCH ĐỂ LẠI CHO CON CHÁU
    147. MỘT CÁCH LO XA CHO CON CHÁU
    148. HAI THẦY TRÒ DẠY NHAU
    149. LƯỠI VẪN CÒN
    150. KHÔNG CHỊU NHỤC
    151. CÂU NÓI CỦA NGƯỜI ĐÁNH CÁ
    152. VUA TÔI BÀN VIỆC
    153. KHÓ ĐƯỢC YẾT KIẾN
    154. KHÔNG PHỤC NƯỚC TẦN
    155. CẬY NGƯỜI KHÔNG BẰNG CHẮC Ở MÌNH
    156. PHẨM TRẬT ÔNG QUAN, PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
    157.BÀI TRÂM CỦA NGƯỜI LÀM QUAN
    158. CƯỜI NGƯỜI TA KHÓC
    159. HIẾU TỬ, TRUNG THẦN
    160. ĐỌC SÁCH CỔ
    161. MẤT DÊ
    162. THỰC HỌC
    163. ĐÂY MỚI THẬT LÀ THẦY
    164. BỎ QUÊN CON SINH
    165. CHỌN NGƯỜI RỒI SAU HÃY GÂY DỰNG
    166. CƠ TÂM
    167. KHÔNG ĐỢI TRÔNG CŨNG BIẾT
    168. KHINH NGƯỜI
    169. HAI CÔ VỢ LẼ NGƯỜI NHÀ TRỌ
    170. BA ĐIỀU PHẢI NGHĨ
    171. LO, VUI
    172. THẤY LỢI NGHĨ ĐẾN HẠI
    173. THỦY CHUNG VỚI VỢ
    174. ĐÁNG SỢ GÌ HƠN CẢ
    175. CHỈ BIẾT CÓ MÌNH
    176. THỞ DÀI
    177. THẰNG ĐIÊN
    178. NGƯỜI XUẤT TỤC
    179. VỢ THẦY KIỆN
    180. ÁC NGẦM

    https://thuviensach.vn

    181. BẢY CÔ VỢ LẼ
    182. GÕ NHỊP MÀ HÁT
    183. LIÊM, SỈ
    184. TIỄN NGƯỜI ĐI LÀM QUAN
    185. VIẾNG NGƯỜI ĐI LÀM QUAN
    186. ĐỨC UỐNG RƯỢU
    187. LÀNG SAY
    188. TREO KIẾM BÊN MỘ
    189. CHẾT VÌ LỄ NGHĨA HAY VÌ TÌNH
    190. VÌ NGHĨA NÊN TÌNH
    191. NGHĨA CÔNG NẶNG HƠN TÌNH RIÊNG
    192. MẸ KHÔN CON GIỎI
    193. TU TẠI GIA
    194. NGƯỜI VỢ HIỀN MINH
    195. TRỌNG NGHĨA KHINH TÀI
    196. MUA XƯƠNG NGỰA
    197. LỜI NÓI KẺ BẮT RẮN
    198. HÒA VI QUÝ
    199. CÁCH TRỊ DÂN
    200. CAN GÌ MÀ PHÁ ĐI
    201. HAY DỞ ĐỀU DO MÌNH CẢ
    202. NGỤY BIỆN
    203. KHÔNG CHỊU THEO KẺ PHẢN NGHỊCH
    204. CÁCH CƯ XỬ Ở ĐỜI
    205. TỰ XÉT LẠI MÌNH
    206. KHÔNG NÊN CÂU NỆ
    207. TRI KỶ
    208. TRỒNG KHÓ, NHỔ DỄ
    209. NGƯỜI KIẾM CỦI ĐƯỢC CON HƯƠU
    210. HỎI THĂM DÂN
    211. DÂN QUÍ NHẤT
    212. NHUỘM TƠ
    213. KÉO LÊ ĐUÔI MÀ ĐI
    214. PHẢI BIẾT PHÒNG XA
    215. MỘT CÂU ĐOÁN ĐÚNG
    216. CÙNG, ĐẠT BỞI SỐ
    217. THƯ VIẾT RĂN CON

    https://thuviensach.vn

    218. VIẾT THƯ KHUYÊN BẠN
    219. THƯ VIẾT CHO BẠN
    220. THAM THÌ CHẾT
    221. THAM VÌ BỊ HẠI
    222. PHÂN TÍCH KHÔNG RÕ
    223. KHÔNG YÊU NHAU MỚI LOẠN
    224.CŨNG LÀ ĂN TRỘM
    225. LƠ TRỜI ĐỔ
    226. DÙNG RƯỢU SAY ĐỂ KHIẾN CHỒNG
    227. TƯỚI DƯA CHO NGƯỜI
    228. CÁCH BIẾT LÒNG NGƯỜI
    229. CÁCH LÀM CHO KHỎI TỨC GIẬN
    230. TIỄN MỘT LỜI NÓI
    231. QUÝ LỜI NÓI PHẢI
    232. TƯ TƯỞNG LÃO TỬ
    233. LÀM NHÀ CỎ CŨNG ĐỦ
    234. THẾ NÀO LÀ ĐẠI TRƯỢNG PHU
    235. THIÊN HẠ SĨ
    236. DỰ NHƯỢNG BÁO THÙ
    237. QUAN TÀI CON
    238. LỆCH THỪA KHÔNG BẰNG NGAY THIẾU
    239. BẮT THAY CHIẾU
    240. ĐÁM MA TO
    241. MUÔN VẬT MỘT THỂ
    242. TỰ TỈNH
    243. NGU CÔNG DỌN NÚI
    DANH NGÔN DANH LÝ
    LỜI BẠT

    https://thuviensach.vn

    TIỂU TỰ
    “Có mới, nới cũ” thường tình vẫn thế. Tân học mỗi ngày một tiến, tất Cựu
    học phải lùi và có khi sợ rồi mai một đi mất. Nhưng, Tân học mà hay, tất là
    Tân học có một nền tảng vững chắc. Nền tảng ấy tức là tinh hoa của Cựu học.
    Cựu học nước nhà là một thứ học trải qua bao nhiêu đời, đã làm cho ông cha
    ta phù thực được cương thường, chấn chỉnh được phong hóa, bảo tồn được
    quốc thể, duy trì được thế đạo nhân tâm, thật không phải là một cái Học
    không có giá trị đáng khinh rẻ hay quên bỏ được. Vả chăng: "Tri kim, nhi bất
    tri cổ, vị chi manh cổ; tri cổ, nhi bất tri kim, vị tri lục trầm" ta đã biết truyện
    đời nay, ta lại cần phải học truyện đời xưa, ta ôn lại việc đời xưa mà ta rõ
    được việc đời nay, có như thế, thì cái Học của ta mới không đến nỗi khiếm
    khuyết. Vì, tuy chia làm cổ, kim, nhưng chẳng qua cũng chỉ là buổi sớm, buổi
    chiều trong một ngày của trời đất, kẻ học giả mà câu nệ chấp nhất, chỉ biết cổ
    không muốn biết kim, hay chỉ biết kim không muốn biết cổ, thì sao gọi là
    "bác cổ thông kim" được!
    Cựu học của ta là gì? Cựu học của ta tức là Hán học nghĩa là một cái Học
    chung cho cả mấy dân tộc ở Á Đông đã chịu cái văn hóa của giống người
    Hán, tức là người Trung Hoa. Cựu học không phải là chỉ có Tứ Thư, Ngũ
    Kinh, xưa kia đa số quen dùng làm cái học cử nghiệp mà thôi. Ngoại giả, còn
    Bác gia chư tử thật là man mác rộng như bể, học thuyết đủ mọi mặt, lý tưởng
    rất sâu xa, muốn học cho tới nơi, phải mất bao nhiêu công phu, thời giờ mới
    được. Nay, chúng tôi biên tập quyển sách nầy, không phải là muốn chuyên
    tâm nghiên cứu riêng một phái nào hay một nhà nào. Chúng tôi chỉ góp nhặt
    một đôi chút lý tưởng trong Cổ học gọi là để cho người đọc thiệp liệp qua
    được một ít tinh hoa của lối học cũ mà thôi. Nên chúng tôi mới lạm dụng bốn
    chữ "Cổ Học Tinh Hoa" làm nhan sách.
    Chúng tôi có ý chọn những bài ngắn mà nghĩa lý hàm súc dồi dào. Những
    bài ấy tuy là truyện từ đời xưa bên Tàu, nhưng ứng dụng vào đời nào và ở
    đâu cũng được. Vì truyện tuy cổ, nhưng cái chân lý thì bao giờ cũng là một,
    mà bao giờ cũng như mới. Nào hiếu đệ, nào trung tín, nào lễ nghĩa, nào liêm
    sĩ, đến cả những việc kỳ quái, sinh tử; bài nầy chính giọng huấn giáo, bài kia
    rõ thể ngụ ngôn, truyện nầy nghiêm trang khắc khổ, truyện kia khôi hài lý
    thú; đức Khổng nói "Nhân" hồn nhiên như hóa công; ông Mạnh bàn "Nghĩa"
    chơm chởm như núi đá, Tuân Tử nói "Lễ" thật là đường bệ, Mặc Tử nói "Ái"
    thật là rộng rãi, hình danh như Hàn phi tử thật là nghiêm nghị khiến người
    mất bụng làm xằng, ngôn luận như Án Tử thật là thâm thiết khiến người dễ

    https://thuviensach.vn

    đường tỉnh ngộ, đến nói đạo đức như Lão Tử, bàn khoáng đạt như Trang Tử
    thật lại biến hóa như rồng, phấp phới như mây... các lý thuyết mỗi nhà một
    khác, có khi phản đối hẳn nhau, nhưng thực khiến cho người đọc vừa được
    vui, vừa phải đem tâm suy nghĩ.
    Dịch những bài văn như thế, chúng tôi lấy làm rất khó. Chẳng những chữ
    Hán dịch ra chữ Nam, lắm câu không hết được nghĩa, nhiều bài, chính
    nguyên văn cũng mỗi nơi chép một khác không lấy gì làm xác định. Nên khi
    dịch, chúng tôi phải châm chước cân nhắc từng bài, bài thì địch thẳng nguyên
    văn, bài thì chỉ dịch lấy đại ý, hoặc có bài phải rút bớt, hay thêm ra, hay đúc
    lại, cốt cho nó xuông tiếng Nam mà không hại đến nghĩa bài thì thôi. Dịch
    Hán văn ra quốc văn, tất phải dùng nhiều chữ Hán. Song chữ nào bất đắc dĩ
    phải dùng, thì ở dưới chúng tôi đã có "giải nghĩa" rõ ràng. Nghĩa ấy thường
    chỉ là nghĩa riêng trong bài, chớ không phải hết mọi nghĩa của từng chữ.
    Những tên người, tên đất, muốn cho tinh tường, đáng lẽ phải có một cái
    biểu liệt đủ tên những tác giả cùng những người nói trong chuyện và một bức
    địa đồ Trung Hoa trải qua các thời đại. Nhưng việc ấy xin để nhường những
    nhà chuyên về Bắc sử sau nầy, đây chúng tôi chỉ chua qua để cho độc giả đủ
    biết cái đại cương mà thôi. Đọc một bài văn hay, mà tư tưởng đã thấm thía
    vào tâm não, thì tất không sao để yên ngòi bút mà không phê bình được. Đó
    cũng là một cái thông bệnh của những người hâm mộ văn chương hay có cái
    thú ngâm nga và đưa ngòi bút khuyên liền, khuyên kín vậy. Chúng tôi cũng
    không tránh khỏi cái bệnh ấy. Nên dưới mỗi bài chúng tôi cũng góp "Lời
    Bàn", cốt là để giải rõ các đại ý trong bài hoặc lạm bình một, đôi câu ứng với
    cái thời buổi bây giờ.
    Chúng tôi mạo muội biên dịch quyển sách nầy là quyển đầu, có ý bảo tồn
    tinh hoa của cổ học và mong các bạn thiếu niên ta nhớ đến nguồn gốc từ bao
    nghiêu nghìn năm về trước, rõ các điển tích thường dẫn trong văn chương
    nước nhà, thêm trước được ít tài liệu có khi làm văn phải dùng đến, rộng
    được ít tri thức tuy thuộc về Cổ học mà thật khác nào "như thóc gạo, như vải
    lụa", thường cần đến hàng ngày. Nếu quyển sách này, giúp được một phần
    trong muôn phần ấy, thì chúng tôi lấy làm hoan hỷ lắm vậy.
    Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm Ất Sửu (1925)
    Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc
    Từ An Trần Lê Nhân

    https://thuviensach.vn

    1. KHÔNG QUÊN ĐƯỢC CÁI CŨ
    Đức Khổng tử ra chơi ngoài đồng, thấy một người đàn bà đứng khóc nỉ
    non ở chỗ bờ đầm. Đức Khổng tử lấy làm lạ, bảo học trò hỏi vì cớ gì mà
    khóc. Người đàn bà nói: "Độ trước tôi cắt cỏ thi, tôi đánh mất cái trâm cài
    đầu bằng cỏ thi, cho nên tôi khóc." Đức Khổng tử hỏi: Đi cắt cỏ thi, mà mất
    cái trâm bằng cỏ, thì việc gì mà phải khóc? Người đàn bà nói: Không phải vì
    tôi đánh mất cái trâm cỏ thi mà tôi khóc; tôi sở dĩ khóc, là tôi thương tiếc một
    vật cũ, dùng đã lâu, mà ngày nay không sao thấy được nữa.
    GIẢI NGHĨA
    Khổng Tử Tập Ngữ: sách chép những lời nói, những truyện về đức Khổng
    Tử.
    Khổng Tử tên là Khưa, tên tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, thời Xuân Thu
    nhà Chu, học về Lễ, Nhạc, Văn chương đời cỗ, đi nhiều nước chư hầu không
    được dụng bỏ về làm kinh Xuân Thu, san định các kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ,
    Nhạc và dạy học trò được ba nghìn người, có bảy mươi hai người giỏi. Nước
    Tàu xưng làm Tổ đạo Nho.
    LỜI BÀN
    Cái gì đã là của mình, mình có bụng yêu, mà lỡ khi mất, thì về sau dù có
    được cái khác giống như thế, hay hơn thế, mình cũng không thể sao yêu cho
    bằng. Thường, lại chỉ vì thấy cái mới mà hồi nhớ đến cái cũ, sinh ra chạnh
    lòng, nên câu ta thán, có khi ngậm ngùi thương khóc nỉ non. Tại sao vậy? Tại
    đối với mình, cái của mất không chỉ có giá của mà thôi, lại hình như còn có
    một phần tâm hồn mình hay tâm hồn người để lại cho mình ngụ ở trong nữa.
    Sự cảm động đầu tiên bao giờ cũng là sự cảm động hay nhất, bền nhất. Ôi!
    Cáo chết ba năm quay đầu về núi, con người ta, dù cho lông bông xiêu bạt
    đến thế nào, còn có chút tâm tình cũng không sao quên được gốc tích xứ sở
    mình. "Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi". Con ngựa rợ Hồ (phía
    bắc nước Tàu) thấy gió bắc còn cất tiếng kêu, con chim đất Việt (phía nam
    nước Tàu) chọn cành nam mới chịu làm tổ, huống chi là người mà lại quên
    được nguồn gốc ư.

    https://thuviensach.vn

    2. LÚC ĐI TRẮNG, LÚC VỀ ĐEN
    Một hôm trời nắng Dương Bố đi chơi. Khi ở nhà ra, thì mặc áo trắng, đi
    được nửa đường, gặp trời mưa, quần áo ướt hết, mới vào ẩn mưa ở nhà bà
    con. Người ấy thấy Dương Bố ướt cả cho mượn cái áo thâm.
    Một lúc trời tạnh, Dương Bố mặc áo thâm về nhà. Con chó trông thấy, vừa
    cắn vừa xua đuổi. Dương Bố giận toan cầm gậy đánh.
    Anh là Dương Chu chạy ra bảo:
    "Đừng đánh nó làm gì! Nó đuổi như thế cũng phải. Giả sử con chó trắng
    nhà ta, lúc đi, thì trắng, lúc về thì đen, phỏng em có không lấy làm lạ mà
    không ngờ được không?"
    GIẢI NGHĨA
    Liệt Tử: sách của Liệt Ngữ Khấu hay người truyền học thuyết của Liệt
    Ngữ Khấu soạn ra, có tám quyển, sau nhà Đường, nhà Tống đặt tên là Sung
    Hư Chân Kinh, hay Sung Hu chí đức chân kinh.
    LỜI BÀN
    Lúc đi mặc áo trắng, lúc về mặc áo thâm, chính mình không biết mình thay
    đổi, con chó thấy khác thì xua đuổi. Mình đánh nó chẳng hóa ra lầm lắm ru!
    Lỗi tại mình thay đổi không tại con chó cắn xằng. Vậy nên ở đời khi mình
    làm điều gì khác thường, mà người ta không rõ, thì tất nhiên người ta bàn trái
    bàn phải. Nếu mình không tự xét mình thay đổi hay dở, chỉ biết trách người
    nghị luận nọ kia, thì chẳng khác nào như Dương Bố đánh chó trong truyện
    này.

    https://thuviensach.vn

    3. LỢI MÊ LÒNG NGƯỜI
    Nước Tống có kẻ mất cái áo thâm. Anh ta ra đường tìm. Thấy người đàn
    bà mặc áo thâm, níu lại đòi rằng: “Tôi vừa mất cái áo thâm, chị phải đền trả
    tôi cái này”. Rồi cứ giữ chặt cái áo không buông ra nữa.
    Người đàn bà cãi: “Ông mất cái áo thâm, tôi biết đấy là đâu. Áo tôi mặc
    đây là áo của tôi, chính tay tôi may ra”.
    Anh kia nói: “Chị cứ phải đền trả áo cho tôi. Cái áo thâm tôi mất dày, cái
    áo thâm chị mặc mỏng. Lấy áo thâm mỏng của chị đền cái áo thâm dày cho
    tôi, còn phải nói lôi thôi gì nữa!”
    (Tử Hoa Tử)
    GIẢI NGHĨA
    Nước Tống: Một nước chư hầu thời Xuân Thu, sau bị nước Tề lấy mất, ở
    vào huyện Thuợng Khưu tỉnh Hà Nam bây giờ.
    Thâm: Sắc đen.
    Níu: Giằng dai giữ lại không cho đi.
    LỜI BÀN
    Mất áo trong nhà mà ra đường tìm, đã là chuyện bật cười. Mất áo đàn ông
    mà đòi áo đàn bà lại là chuyện bật cười. Mất áo thâm dày bắt đền áo thâm
    mỏng mà cho là phải, lại là chuyện bật cười nữa. Ôi cái lợi nó làm cho lòng
    người mê muội, chỉ biết có mình không biết có ai, chỉ vụ lợi cho mình mà
    quên cả phải tráị Kẻ nào đã vụ lợi như thế, thì cái gì mà chẳng dám làm, cái
    gì mà chả dám nói! Than ôi! Cái đời kim tiền bây giờ biết bao nhiêu phường
    đòi áo như người nói trong truyện này.

    https://thuviensach.vn

    4. LẤY CỦA BAN NGÀY
    Nước Tấn có kẻ hiếu lợi một hôm ra chợ gặp cái gì cũng lấy. Anh ta nói
    rằng: "Cái này tôi ăn được, cái này tôi mặc được, cái này tôi tiêu được, cái
    này tôi dùng được." Lấy rồi đem đi. Người ta theo đòi tiền. Anh ta nói: "Lửa
    tham nó bốc lên mờ cả hai con mắt. Bao nhiêu hàng hóa trong chợ tôi cứ
    tưởng của tôi cả, không còn trông thấy ai nữa. Thôi, các người cứ cho tôi, sau
    nầy tôi giàu có, tôi sẽ đem tiền trả lại". Người coi chợ thấy càn dỡ, đánh cho
    mấy roi, bắt của ai phải trả lại cho người ấy. Cả chợ cười ồ. Anh ta mắng:
    "Thế gian còn nhiều kẻ hiếu lợi hơn ta, thường dụng thiên phương, bách kế
    ngấm ngầm lấy của của người. Ta đây tuy thế, song lấy giữa ban ngày so với
    những kẻ ấy thì lại chẳng hơn ư? Các ngươi cười ta là các người chưa nghĩ
    kỹ!"
    GIẢI NGHĨA
    Long Môn Tử: tức là Tư Mã Thiên làm quan Thái Sư nhà Hán là một nhà
    sử ký có danh.
    Hiếu lợi: ham tiền của quên cả phải trái.
    Lửa tham: lòng tham muốn bốc lên làm ngốt người.
    Mờ cả hai con mắt: chỉ để cả vào của muốn lấy, ngoài ra không trông thấy
    gì nữa.
    Thế gian: cõi đời người ta ở.
    Thiên phương bách kế: mưu này, chước khác xoay đủ trăm nghìn cấp.
    Ban ngày: lúc sáng sủa dễ trông thấy.
    LỜI BÀN
    Đã là kẻ thấy của tối mắt, tham vàng bỏ nghĩa, thì dù ít, dù nhiều cũng là
    đáng khinh cả, song đem những kẻ mặt to, tai lớn, vì ham mê phú quý mà
    lường thầy, phản bạn, hại ngầm đồng bào so với những quân cắp đường, cắp
    chợ giữa ban ngày để nuôi miệng thì tội đến nặng hơn biết bao nhiêu. Thế mà
    trách đời chỉ biết chê cười những quân trộm cướp vặt chớ không biết trừng trị
    những kẻ đại gian đại ác.

    https://thuviensach.vn

    5. KHỔ THÂN LÀM VIỆC NGHĨA
    Mặc Tử ở nước Lỗ sang nước Tề, qua nhà người bạn cũ, vào chơi. Người
    bạn nói chuyện với Mặc Tử rằng: "Bây giờ thiên hạ ai còn thiết đến việc
    "nghĩa", một mình ông tự khổ thân để làm việc nghĩa, thì có thấm vào đâu!
    Chẳng thà thôi đi có hơn không? - Mặc Tử nói: "Bây giờ có người ở đây, nhà
    mười đứa con, một đứa cày, chín đứa ngồi ăn không, thì đứa cày chẳng nên
    càng chăm cày hơn lên ư? Tại sao thế? Tại đứa ăn không nhiều, đứa đi cày ít.
    Bây giờ thiên hạ chẳng ai chịu làm việc nghĩa, thì ông phải biết khuyên tôi
    càng làm lắm mới phải, có đâu lại ngăn tôi như thế!"
    GIẢI NGHĨA
    Mặc Tử: tên sách của Mặc Địch soạn, chủ nghĩa là kiêm ái yêu người như
    yêu mình cũng gần giống chủ nghĩa của đạo Cơ Đốc và đạo Thích Ca.
    Tề: một nước chư hầu lớn, thời Xuân Thu Chiến Quốc, cũng ở vào địa
    phận tỉnh Sơn Đông bây giờ.
    Nghĩa: việc phải, việc hay mà người ta nên làm.
    Tự khổ thân: tự mình làm cho mình khóc nhọc vất vả.
    LỜI BÀN
    Trong khi nhân tâm thế đạo suy đồi, mình là người còn đứng vững được,
    thì sao lại chịu suy đồi với thiên hạ cho cùng trôi một loạt. Vì nếu ai cũng
    như thế cả, thì còn đâu là người cảnh tỉnh được kẻ u mê để duy trì lấy nhân
    tâm thế đạo nữa? Cho nên những người thức thời, có chí, dù ở vào cái đời
    biến loạn đến đâu, cũng không chịu đắm đuối vào cái bất nghĩa, khác nào
    như: cây tòng, cây bách, mùa đông sương tuyết, mà vẫn xanh, như con gà
    trống, mưa gió tối tăm mà vẫn gáy. Những bậc ấy chẳng những thế mà thôi,
    lại còn đem bao nhiêu tinh lực tâm trí ra, cố gắng giữ lấy phong hóa mà dìu
    dắt, mà đưa đường cho những kẻ u mê đắm đuối. Như Mặc Tử đây, cho là
    đời là suy biến, coi sự làm việc "Nghĩa", sự cổ động việc nghĩa như cái chức
    vụ của mình phải làm, thực là người có công với loài người vậy.

    https://thuviensach.vn

    6. CÁCH CƯ XỬ Ở ĐỜI
    Thầy Nhan Uyên, hỏi Đức Khổng Tử: "Hồi này muốn nghèo mà cũng
    được như giàu, hèn mà cũng được như sang, không phải khỏe mà có oai, chơi
    bời với người ta suốt đời không lo sợ gì, muốn như vậy, có nên không?"
    Đức Khổng Tử nói: "Người hỏi thể phải lắm. Nghèo, mà muốn cũng như
    giàu, thế là biết bằng lòng số phận không ham mê gì. Hèn, mà cũng muốn
    như sang, thế là biết nhún nhường và có lễ độ. Không khỏe, mà muốn có oai,
    thế là biết thận trọng, cung kính không lầm lỗi gì. Chơi bời với mọi người mà
    muốn suốt đời không lo sợ, thế là biết chọn lời rồi mới nói.
    Khổng Tử Tập Ngữ
    GIẢI NGHĨA
    Khổng Tử Tập Ngữ: sách chép những lời nói, những truyện về đức Khổng
    Tử. - Khổng Tử tên là Khưa, tên tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, thời Xuân
    Thu nhà Chu, học về Lễ, Nhạc, Văn chương đời cỗ, đi nhiều nước chư hầu
    không được dụng bỏ về làm kinh Xuân Thu, san định các kinh Thi, Thư,
    Dịch, Lễ, Nhạc và dạy học trò được ba nghìn người, có bảy mươi hai người
    giỏi. Nước Tàu xưng làm Tổ đạo Nho.
    Nhan Uyên: tên là Hồi, người nước Lỗ, thời Xuân Thu, học trò giỏi nhất
    của Đức Khổng Tử.
    Hồi: theo lễ xưa, hầu chuyện những bậc trên, như vua, cha, thầy học,
    thường hay xưng tên.
    Lễ độ: phép tắc mực thước.
    Thận trọng: cẩn thận, trọng hậu.
    LỜI BÀN
    Không cần công danh phú quí thế là biết giữ thiên tước hơn là nhân tước,
    không để ai khinh lờn được, thế là biết trọng phẩm giá mình, không muốn
    đeo cái lo vào mình, thế là biết giữ thân không phiền lụy đến ai. Ở đời mà giữ
    trọn vẹn được mấy điều như thế, tưởng thật là một cách vui thú rất cao
    thượng vậy.

    https://thuviensach.vn

    7. TU THÂN
    Thấy người hay, thì phải cố mà bắt chước; thấy người dở thì phải tự xét
    xem có dở như thế không để mà sửa đổi. Chính mình có điều hay, thì phải cố
    mà giữ lấy; chính mình có điều dở, thì phải cố mà trừ đi.
    Người chê ta, mà chê phải, tức là thầy ta; người khen ta, mà khen phải, tức
    là bạn ta; còn người nịnh hót ta lại là người cừu địch hại ta vậy. Cho nên
    người quân tử trọng thầy, quí bạn và rất ghét cừu địch, thích điều phải mà
    không chán, nghe lời can mà biết răn... như thế dù muốn không hay cũng
    không được.
    Kẻ tiểu nhân thì không thế. Cực bậy, mà lại ghét người chê mình; rất dở,
    mà lại thích người khen mình; bụng dạ như hổ lang, ăn ở như cầm thú, mà
    thấy người ta không phục, lại không bằng lòng; thân với kẻ siểm nịnh, xa
    cách kẻ can ngăn, thấy người chính trực thì cười, thấy người trung tín thì
    chê... Như thế thì dù muốn không dở cũng không được.
    Tuân Tử
    GIẢI NGHĨA
    Tuân Tử: tên thật là Huống, tên tự là Khanh, người nước Triệu, sinh ra sau
    Mạnh Tử độ 50 năm, thấy đời bấy giờ cứ loạn luôn mãi và phong hóa suy
    đồi, làm sách nói về lễ nghĩa, lễ nhạc, cốt ý để chỉnh đức và hành đạo.
    Quân tử: Người có tài đức hơn người.
    Tiểu nhân: Kẻ bất chính, gian ác, tự tư, tự lợi.
    Cầm thú: cầm: giống có hai chân và hai cánh; thú: giống có bốn chân, hai
    chữ chỉ loài chim và loài muông.
    Chính trực: ngay thẳng.
    Trung tín: hết lòng, thật bụng.
    LỜI BÀN
    Cái đạo tu thân rút lại chỉ có biết theo điều hay, biết tránh điều dở. Mà
    muốn tới cái mục đích ấy, thì không những là tự mình phải xét mình lại còn
    phải xét cái cách người ở với mình nữa. Đối với người, cần phải biết hai điều:
    Ai khen chê phải, khuyên răn hay, thì phục, thì bắt chước; ai chiều lòng nịnh
    hót, thì tránh cho xa, coi như quân cừu địch. "Nên ưa người ta khuyên mình
    hơn người ta khen mình" có như thế, thì mới tu thân được.

    https://thuviensach.vn

    8. ÔM CÂY ĐỢI THỎ
    Một người nước Tống đang cày ruộng. Giữa ruộng có một cây to. Có con
    thỏ đồng ở đâu chạy lại, đâm vào gốc cây, đập đầu chết. Người cày ruộng
    thấy thế, bỏ cày, vội chạy đi bắt thỏ. Đoạn, cứ ngồi khư khư ôm gốc cây,
    mong lại được thỏ nữa. Nhưng đợi mãi chẳng thấy thỏ đâu, lại mất một buổi
    cày. Thiên hạ thấy vậy, ai cũng chê cười.
    Hàn Phi Tử
    GIẢI NGHĨA
    Hàn Phi Tử: Công tử nước Hàn, học trò Tuân Tử chuyên về bình danh
    pháp luật, nước Hàn không dùng, sang ở nước Tần, được đại dụng, nhưng sau
    bị kẻ gièm pha, rồi tự tử. Sách của Hàn Phi Tử có 50 thiên, đặt tên Hàn Tử.
    Nhà Tống sau thêm chữ Phi để khỏi lầm lẫn với Hàn Dũ.
    Đoạn: nghĩa đen là đứt, việc nầy đứt đến việc khác.
    LỜI BÀN
    Thấy mùi, quen mui làm mãi. Ở đời những kẻ ngẫu nhiên gặp may, mà ước
    ao được gặp may luôn như thế nữa, không biết sự may là tình cờ mới có, thì
    có khác gì người nước Tống ôm cây đợi thỏ nầy. Anh ôm cây đợi thỏ này lại
    còn là người cố chấp bất thông, không hiểu thời thế, không thấu tình cảnh,
    khư khư đười ươi giữ ống, cũng một phường với những hạng chơi đàn gắn
    chặt phím, khắc mạn thuyền để nhớ chỗ gươm rơi.

    https://thuviensach.vn

    9. ĐÁNH DẤU THUYỀN TÌM GƯƠM
    Có người nước Sở đi đò qua sông. Khi ngồi đò, vô ý đánh rơi thanh gươm
    xuống sông. Anh ta vội vàng đánh dấu vào mạn thuyền, nói rằn
     
    Gửi ý kiến

    Danh ngôn về sách

    “Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    Nhúng mã HTML

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG, XÃ THANH MIỆN, TP HẢI PHÒNG !