THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG GIỚI THIỆU SÁCH CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 26/3
Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường Tiểu học Tứ Cường- Xã Thanh Miện- Thành phố Hải Phòng
Chuyện lính Tây Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 15h:19' 26-12-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 15h:19' 26-12-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
1. Lời tựa
2. Nhập ngũ
3. Tân binh
4. “Trịnh Công Sơn” làm cỏ lúa
5. Chủ nhật cuối cùng
6. Chuyến tàu quân sự
7. Trảng Lớn – Tây Ninh
8. Hai cây đàn guitar
9. Lên chốt
10. Chuột tinh
11. Bắn cá cải thiện
12. Chiến công đầu tiên
13. Tết Quân đội biên giới năm 1978
14. Chốt Long An tháng 12/1978
15. Rừng Tràm – Trận đánh đầu tiên
16. S'vay Rieng
17. Trăng liềm hướng địch
18. Vẫn còn ngày xanh
19. Kachiusa bên bờ sông Niek Luong
20. Đập vỡ cây đàn
21. “Ăn cơm đúng kẻng”
22. Cháo gà đêm
23. Khế ước cách mạng
24. Ngọt như trái mít
25. Prek K'dam
26. Tiếng lục lạc bò
27. Tết chiến trường
28. Lăm thon gái góa
29. Giải vây sư 341
30. Chửi nhau với địch ở Oudong - Uống nước xác người trong
đường sắt
31. Ngày 17 tháng 2 năm 1979
32. Tiếng hú chim thiêng
33. Chính trị viên đại đội
34. Nối dây đêm
35. Lá thư đô thị
36. Ga Rômia
37. Hàng phố bâng khuâng
38. Rùa vàng và tê tê
39. Đồ cổ
40. Duyên đạn cuối tầm
41. Lung lay bóng nguyệt
42. Am Leang
43. Tìm diệt
44. Mùa khô rừng khộp
45. Kho súng
46. Áo trận
47. Mất chốt (15/4/1979)
48. Đêm phum dừa cụt
49. Ném nhau với địch
50. Phá vây
51. Vượt đỉnh Aoral
52. Thành phố buồn
53. Đường bò
54. Đi săn Tà Mốc
55. Loạt đạn gọi hồn
56. Hổ phum Kà rọi
57. Ngủ chung với địch
58. Ruồi vàng
59. Buổi chiều máu
60. Phum rừng thị
61. Thị trấn Ponley
62. Một đòn chết bảy
63. Con nuôi
64. Trâu điên
65. Sập bẫy
66. Ma đói mùa mưa
67. Dơi quạ
68. Mìn “xin một chân”
69. Nấm độc
70. Nữ chiến binh Kh'mer Đỏ
71. Cao điểm 701
72. Dào dạt võng đưa
73. Kampong Ch'nang
74. Tự giải quyết phép
75. Chuyến tàu lậu vé
76. Nỗi sợ
77. Tết Canh Thân
78. Hải trình
79. Lỡ hẹn
80. Quý nhân phù trợ
81. Chuyến tàu chiều
82. Cứ Ba Tahean
83. Kẹp núi oan hồn
84. Thịnh đen và Cáp đen
85. Lũ rừng
86. Chim cu
87. Cự Kỳ đà
88. Cây cỏ bình thường
89. Túy ngọa sa trường
90. Bắt tóp thuốc rê
91. Văn nghệ Quân đội trên chiến trường
92. Cây dầu rái có ma
93. Màu tím hoa sim
94. Hổ trắng
95. Cái mới
96. Mưa rừng
97. Khẩu đội đại liên
98. Săn bắn cải thiện
99. Mắc mùng cho chó
100. Hai phát K.59
101. Đồng hồ Orient
102. Thầy bói
103. Bắn tỉa
104. Đi soi cá
105. Đi tải gạo
106. Đường vào biên giới
107. Thủ đô Hai Mươi Nhà và khu Năm Nhà
108. Con đường bí mật
109. Đại bàng
110. Hình chụp thiên thu
111. Tiếng cối đêm sương
112. Rừng thiêng
113. Cú tát tất niên
114. Đêm ga Pursat
115. Tết Tân Dậu 1981 – Tết thứ 3 đời lính
116. Thốt nốt
117. Kiến leo cành xoài
118. Rắn cắn chó
119. Sàri kakeo – Chim sáo
120. Hành khúc trung đoàn
121. Má nuôi
122. Xe lôi lịch sự
123. Thị trấn S'toung
124. Câu chuyện Ph'nom Penh
125. Cơn gió màu xanh
126. Chùa Bạc Hoàng cung
127. Tháo khoán
128. Vịt đầu đỏ
129. Phương Dung và Jeanette trên chiến trường
130. Đêm cuối
131. Đêm đầu tiên đất Việt
132. Nước mắt quê hương
133. Lời bạt
134. Chú thích
Hồi ức của Xuân Tùng – nguyên Trung sĩ Thông tin, phục vụ tại
Tiểu đoàn Bộ binh 4, Trung đoàn 2,
Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 trong thời gian
Chiến tranh Biên giới Tây Nam 1978-1983.
Lời tựa
T
ÔI LÀ MỘT NGƯỜI LÍNH BỘ BINH, đã tham gia cuộc chiến tranh
bảo vệ biên giới Tây Nam, đánh đổ chính phủ diệt chủng Kh'mer
Đỏ từ năm 1978 đến năm 1983.
Sau hơn bốn năm rưỡi dọc dài các nẻo chiến trường đất nước
Chùa Tháp, tôi trở về bước lên bậc thềm nhà đúng chiều 23 Tết
Quý Hợi 1983. Bốn năm đầy hy sinh gian khổ, với rất nhiều bạn
bè đồng đội tôi đã không trở về. Cuộc sống làm ăn xô cuốn,
nhưng những gương mặt thân quen ấy nhiều đêm trở lại. Tên các
anh em vẫn luôn được nhắc trong những ngày kỷ niệm, trong hàn
huyên lính cũ bên cốc bia hơi vỉa hè hàng phố. Chính họ đã nhắc
tôi kể lại câu chuyện Tây Nam này, dù tôi không phải nhà văn,
nhà báo. Tên tuổi các anh em tôi giữ nguyên không đổi, như là họ
vẫn còn sống trên đời.
Cũng bởi ngại ngần chưa dám nhờ ai, nên tôi tự mình viết luôn
lời tựa cho cuốn sách này, như một người lính được lệnh bước
lên dưới quân kỳ, tự giới thiệu mình trước mặt hàng quân.
Ba mươi sáu phố phường yêu dấu ta ơi
Mỗi một người đi hồn nhói tên một phố
Gió chôn vội mắt đêm nhiều ô cửa
Sáng nay mưa buồn lòng còn mỗi ngoại ô.
Hà Nội, mùa hè năm 2017
Nhập ngũ
T
ÔI VĨNH BIỆT TUỔI HỌC TRÒ bằng một cú va chạm mạnh.
Miền Bắc hồi đó, chị em toàn dùng một loại “quang treo” cùng
một kiểu. Nó dày, các lớp vải được tích kê đồng tâm chặt với
nhau thành hình nón. Đặc biệt cái mũi cứng và nhọn hoắt nên sơ
mi mặc ngoài tại vị trí đó bị sờn trước tiên. Chẳng ai tò mò nhìn
mãi vào đấy nhưng không hiểu sao nó cứ thường xuyên chọc vào
mắt. Người nào ham sưu tầm các tranh cổ động hẳn biết cái
“quang treo” kiên cố đó nó ảnh hưởng đến nền mỹ thuật hội họa
tuyên truyền cổ động của chúng ta như thế nào. Trên các áp
phích này thường thể hiện anh công nhân vạm vỡ chắc tay búa,
gương mặt cương nghị rắn rỏi. Đứng cạnh là cô gái nông dân
khỏe khoắn, dồi dào núi đôi, cầm liềm vươn tới cánh đồng năm
tấn. Tôi năm đó 18 tuổi, đang học lớp 10 trường Phan Đình
Phùng - Hoàng Diệu, phố Cửa Bắc hệ 10 năm. Thằng con trai 18
tuổi thời đó còn dại lắm, không quái như bọn trẻ con bây giờ. Vẫn
dở ông dở thằng, đôi khi còn mặc quần đùi thông lổng ra hồ Hoàn
Kiếm câu tôm trong những ngày nghỉ. Một lần cùng bọn con trai
đuổi nhau trong trường, tôi chạy ngoặt qua cái góc cầu thang gỗ,
ngực va sầm vào một cô giáo thực tập đang đi lên. Tôi đỡ cô giáo
dậy, lúng búng xin lỗi rồi xấu hổ biến mất. Nhưng vết sẹo vô hình
bởi sự va chạm chết người trên ngực thì không mất, nó lẩn quất
đâu đó mãi trong đầu. Vết sẹo vô hình thời áo trắng làm tính tình
trở nên chững chạc thanh niên hơn hẳn.
Thời đó áo trắng cũng hiếm. Gần nửa thời gian thơ ấu của tôi
sống cùng Hà Nội dưới trời bom Mỹ thả. Thêm hai lần sơ tán nối
nhau. Áo trắng của tôi bị nhúng vào chậu xanh-mê-ti-len do bố
mang về để nguỵ trang. Tuổi thơ trải qua chiến tranh phá hoại
quả thật không may cho một đứa trẻ con. Nhưng chính những
trận bom, tầm cao xạ cùng tiếng B.52 rền trời ấy làm tôi không bị
bất ngờ trong chiến trận sau này. Cũng chính cuộc sống nơi sơ
tán thôn quê đã giúp mình tự lập, thay đổi thói quen, thích nghi
với những hoàn cảnh khó khăn dã ngoại. Sau kỳ thi đại học năm
1978, tôi đi nghỉ hè trên viện bố tôi công tác ở Vĩnh Phúc. Ngày
chủ nhật, tôi theo nhân viên viện ông lên Tam Đảo chơi. Tháng
tám, đang mùa thu hoạch cây xuyên khung. Thị trấn trên núi vắng
teo, thơm ngát mùi xuyên khung héo phơi đầy trên những con
đường dốc.
Chiều tối, khi trở về gần đến Vĩnh Yên trời đổ cơn mưa. Ngoài
cửa sổ xe ca hồng thập tự, một đoàn lính đang lặng lẽ hành
quân. Họ trùm ni lông sù sù, cắm cúi bước trên con đường ướt
loáng ánh đèn pha. Trong xe thật ấm, và chỉ một chút nữa thôi là
về đến nhà để duỗi dài đôi cẳng đã mỏi nhừ vì leo dốc núi, mở
chiếc đài Hồng Đăng trong phòng nghe ca nhạc. Nhưng có một
điều gì đó như dự cảm đồng vọng, bắt tôi phải nhìn theo mãi
đoàn quân ấy. Dự cảm bỗng trở thành hiện thực trong vòng 30
phút. Về đến viện gặp bố, ông bảo: “Mai về Hà Nội. Con có lệnh
nhập ngũ”.
Chỉ bốn tháng sau, chúng tôi đã thành đồng đội, cũng hành quân
rạc rài như thế, cũng chui hầm ngủ đất, không biết sống chết thế
nào ở một nơi xa lắc.
Tân binh
S
Ẽ LÀ MỘT THIẾU SÓT LỚN trong câu chuyện biên giới Tây Nam
khi không nhắc gì đến làng quê chúng tôi huấn luyện tại đó trước
khi vào chiến trường. Nơi đây xóm Núi, thôn Lãm, huyện Kim
Thanh, tỉnh Hà Nam Ninh, gần ga Bình Lục. Một làng quê Bắc Bộ
vùng đồng chiêm trũng điển hình. Những ngọn đồi thấp cắm chân
thẳng xuống đồng sâu. Tre gai bao bọc lấy làng thành lũy dày
ngăn ngắt.
Dân làng nghèo, nhiều nhà phải ngả cả cánh cửa xuống, lấy chỗ
nằm cho bộ đội. Tôi với Tuấn Anh được anh Ly tiểu đội trưởng
đưa về nhà một chị có chồng đi lính chống Mỹ. Chị có thằng bé
con mới học lớp một. Tuấn Anh cho nó cái bánh mì. Nó nhìn mẹ
rồi ngập ngừng cầm lấy. Đã ba năm kể từ ngày thống nhất, chồng
chị vẫn không có tin tức gì. Chị rất ít nói, buồn như một cái bóng.
Mờ đất, khi chúng tôi mới nghe tiếng còi báo thức sáng của anh
Ly đã thấy chị cuốn xà cạp vào chân, kéo cành rong tre lấp cổng
ra đồng rồi.
Xà cạp là miếng vải cuốn vào bắp chân, cao đến tận đùi để chống
đỉa. Đồng chiêm trũng nên đỉa rất nhiều. Đỉa hẹ nhỏ, mỏng như
cái que, hai lườn vàng choé nhưng rất thính, động nước là lao
đến liền. Con này rất sợ vì nó tham ăn, lại hay luồn lách được
vào những chỗ không ngờ. Đỉa trâu là nỗi khủng khiếp nhất. Khi
đói nó co lại chỉ bằng cái dái mít. Khi đã no máu, nó trương lên
cỡ chục lần bằng quả chuối tiêu.
Những buổi chiều tập xong ngồi nghỉ ở sân kho cũng là lúc đàn
trâu hợp tác đi cày về. Trâu dồn ở sân kho trệu trạo nhai lại, ngửi
hít cọ sừng cồng cộc. Trên đùi bầy trâu thường có một túm đỉa
lúc lỉu căng máu. Chúng tôi bẻ cành rong, hò nhau đi bắt đỉa cho
từng con. Những con đỉa khủng long rơi xuống, lấy chân dẫm lên
day mạnh. Hai tia máu đỏ phọt ra từ cả hai đầu thành vòi, vụt xa
đến cả mét. Vẫn chưa hả, chúng tôi đốt rơm, gắp lũ đỉa thảy vào.
Những con đỉa nổ trong lửa bụp bụp, tiết dở sống dở chín văng
tung toé. Thằng Trương muốn thể hiện bản lĩnh trước anh em. Nó
nướng cháy từ từ một con đỉa cho đến khi vỏ ngoài thành than.
Hắn bóc cái vỏ da đỉa đen cháy, cầm miếng tiết trâu nóng hổi cho
thẳng vào mồm nhai, nhăn nhở mặt làm trò.
Một tuần sau, thấy chúng tôi ở nhà chị ấy có vẻ không tiện, anh
Ly lại lôi hai thằng tôi về ở cùng. Nhà này khá to, có thềm đá mái
ngói, vốn là nhà tịch thu của địa chủ thời cải cách ruộng đất. Ông
chủ nhà là chủ nhiệm hợp tác xã có con đi bộ đội trong Nam. Hai
ông bà cùng cô con gái út 17 tuổi tên là Độ ở nhà trên. Bọn tôi
được xếp ở nhà ngang phía dưới. Toàn bộ khu nhà đó nằm thoải
từ chân núi xuống cái giếng cạnh đường làng.
Cái giếng sâu lắm, dây lại ngắn nên mỗi lần Độ cúi nhoài người
giật gàu múc nước thường bị lạnh lưng hở sườn. Khoảng mát
trong thanh khiết thấp thoáng dưới tà áo xanh chàm. Những ngày
mưa ngâu, chúng tôi không ra thao trường được, nằm tập ngắm
bia con chấm bút bi ở trong nhà sao cho tia ngắm chụm. Ngắm
bia thì ít, ngắm phần trăng trắng dưới vạt áo đang múc nước
ngoài giếng kia thì nhiều. Mục tiêu di động này thu hút hơn bia.
Anh Ly tiểu đội trưởng bực mình nổi máu quân tử mã thượng, đi
mua một cái chạc dài thay cho cái dây gàu ngắn. Lại bắt tụi tôi
mỗi đứa mỗi ngày hai gánh nước đổ lên bể trên cho nhà em Độ.
Em Độ không cảm cái oai với sợi thừng dài của anh Ly mà thông
cảm với chúng tôi. Ngày đó quán bà Bóp cây đa bán 2 hào một
quả bưởi. Sau khi bộ đội về làng, bà điều chỉnh giá lên kịch
đường tàu thành 5 hào. Tôi với thằng Tuấn Anh ở đó thích là có
bưởi ăn liền, khỏi mua vì Độ cho. Bưởi đầy sau núi vườn nhà. Tối
thứ tư sinh hoạt trung đội đọc báo sân kho. Tôi cáo ốm không đi.
Lúc về anh Ly đi khẽ, lia đèn pin thấy tôi không ốm, đang ngồi ăn
bưởi rinh rích vô tư cùng em trên bực giếng. Anh Ly hầm hầm ra
lệnh: “Từ nay ngồi nói chuyện với phụ nữ hoặc với nữ đoàn viên
thanh niên địa phương ban tối thì phải đốt đèn dầu. Đèn dầu phải
để giữa hai người”.
Có ai còn nhớ quả chấp? Nó giống như quả cam, vỏ màu vàng,
múi bên trong chua gắt. Độ hay gội đầu bằng nước bồ kết nướng,
thêm nhánh sả và mấy miếng vỏ bưởi. Em đứng dưới sân, xổ tóc
ra trong chậu nước đặt trên thềm đá cao, từ từ chải thật kỹ, thật
cẩn thận. Sau cùng nước tráng vắt nửa quả chấp vào chải tiếp.
Nước quả chấp chua làm cho tóc mượt mềm. Đâu đó xong xuôi,
Độ vuốt tóc cho nước xuôi xuống. Động tác cuối cùng là mê ly
nhất, em đứng giữa sân, nắm suối tóc sát đầu ngay ngọn nguồn
rồi quay vù vù như máy bay lên thẳng. Mái tóc nặng, vóc hình
thôn nữ khỏe khoắn lắc dẻo như múa ba lê, phơi cái cổ thon thon
tròn nõn chuối. Nước mát li ti, thơm bay lỏa tỏa khắp mặt sân kết
cầu vồng trong nắng. Tưởng như có thể bay lên được vì tóc em
dài lắm.
Tôi trở lại thăm nơi huấn luyện cũ ở xóm Núi, thôn Lãm, huyện
Kim Thanh, tỉnh Hà Nam Ninh năm 2010. Hỏi thăm em Độ, người
làng nói em đã mất, bị đuối nước ngoài cống Non. Cái sân kho
đại đội tập thể dục trước cũng không còn. Ngậm ngùi tìm lại nhà
thắp cho em mấy nén nhang, để lại chút quà nhỏ rồi đi.
“Trịnh Công Sơn” làm cỏ lúa
S
AU KỲ BẮN ĐẠN THẬT, khoa mục tập nhàn hẳn. Buổi sáng lười,
trốn tập thể dục không ai nói. Chúng tôi có thời gian lần mò cải
thiện tẩm bổ. Nắng đi vớt ốc bươu, mưa mượn lưới dân đi lưới
cá ở ao hợp tác vượt ra mương. Dù đã vượt bờ nhưng cá hợp
tác vẫn là cá tập thể. Đất quê vùng chiêm trũng mơ màng trong
những buổi trưa hanh gắt nắng rám trái bòng. Giống ốc bươu ốc
nứa vỏ mỏng vàng xọng, dồn khí bên trong từ từ nổi lên trên mặt
nước, nhờ cơn heo may dài rộng đủng đỉnh làm chuyến viễn du
trên mặt sóng lăn tăn. Nghỉ trưa mang vợt ra đi vớt ốc. Ốc mùa
này tích mỡ ngủ đông nên béo lắm. Trong những bó rạ được
người ta buộc túm, bỏ lại trên ruộng chờ khô để rải liếp màu là
nơi trú ngụ của cua đồng. Nhấc ra chắc chắn túm được dăm con.
Còn trong những dấu thụt chân người đọng nước trên mặt bùn
đã xanh rêu, thọc tay khua khoắng cũng túm được mấy con cá
đòng đong, mài mại hay cá giếc nhỏ đem về nhờ chủ nhà kho
khế.
Những chiều cuối thu, nằm dài trên bờ mương dưới bóng bạch
đàn ngắm bia mẹ con, ngắm các em cong mông đẩy xe cải tiến.
Đồng đã gặt xong vắng tênh. Chân rạ bời bời sắp hàng trắng
mốc, tương phản với bầu trời kéo ngược hút lên sâu thăm thẳm.
Không gian bắt đầu chuyển lạnh thấy rõ. Đất chỗ đơn vị tôi huấn
luyện ở cách Bình Lục, Yên Đổ, quê cụ Tam Nguyên chưa đến 4
cây số. Hẳn ngày xưa, cụ cũng sống trong cái không gian đồng
đất xóm mạc Bắc Việt cuối thu buồn bã này nên mới bị cảm lạnh,
mà than rằng “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo”.
Thời gian huấn luyện, khẩu phần ăn của bộ đội cực kỳ kham khổ.
Bữa sáng ăn ngô xay nấu như kiểu nấu cơm, có cho chút vôi để
ngô mềm, thường thường là nát như bánh đúc. Gác ca cuối tôi
hay mò vào cạy cửa bếp ăn vụng cháy. Trên mỗi chậu nhôm chia
ngô, chị nuôi úp một miếng cháy. Cháy ngô nấu chảo gang dày
khi ăn nóng khá giòn và ngon. Bữa trưa và chiều thì cơm ngô
theo tỷ lệ 50/50. Thức ăn là rau muống chấm nước mắm gạo
rang. Một chút cá khô mục nữa. Còn thịt hồi đó được định nghĩa
là thức ăn hằng ngày của nhân dân mà bằng mắt thường ta
không thể nào nhìn thấy được.
Thằng Long “Nhuận” ở 54 Hàng Giấy, gần hiệu sách Yên Sơn, có
mang theo một cây guitar. Nó là học trò ông Văn Vượng, chơi
classic khá hay. Ngón trémolo(1) những bài Bài ca hy vọng, Vũ
khúc Tây Ban Nha... nghe không khác trên đài là mấy. Tôi cũng
mới tập tọe học chơi. Đã thế lại còn thích sáng tác. Một sáng tác
nhái của tôi theo giai điệu bài Hạ trắng của Trịnh Công Sơn thế
này:
“Tuyệt quá.....!
Bữa cơm chúng mình
Toàn rau muống xanh
Bát cơm ngô vàng
Đệm cho món canh
Tép kho hôi rình
Ngửi sao thấy tanh
Nghẹn không muốn nuốt
Biết sao bây giờ...?
Cho nên em buồn
Cho nên em chuồn
Về nơi phố cũ....”
Nhiều đứa không biết Hạ trắng là bài nào, nhưng lại thuộc lòng
cái lời xuyên tạc chết tiệt. Một tối, đang gân cổ say sưa trình tấu
Hạ trắng thì anh Cường chính trị viên vồ được. Anh ấy hỏi:
“Thằng nào sáng tác bài hát này?”. Tôi bảo: “Dạ là Trịnh Công
Sơn”. Anh ấy bợp tai tôi phát, bảo: “Đồng chí đừng có bố láo. Đại
đội này không có quân nhân nào tên là Trịnh Công Sơn cả. Mai đi
làm cỏ lúa!”.
Ba hôm liền, cứ sau bữa trưa, mọi anh em về đánh giấc thì tôi ra
ruộng làm lao công dưới sự giám sát của anh Ly tiểu đội trưởng.
Anh ấy lầm bầm chửi: “Tiên sư mày, vì nhân dân quên mình
không hát, đi hát nhăng hát cuội. Tiên sư mày, vì mày mà bố mày
khổ lây”.
Chủ nhật cuối cùng
S
AU MỘT THỜI GIAN, chúng tôi được chuyển ra phía ngoài Mậu
Chử. Xóm đạo bé nhỏ có cây cầu xi măng bắc qua kênh đầu
làng. Đơn vị huấn luyện tá túc tại đây đã hành quân trước vào
Nam. Đêm nằm nghe tiếng còi tàu rít u u .. Chẳng biết bao giờ
đến lượt đơn vị mình lên đường.
Đêm cuối thu càng lúc càng lạnh. Tiếng chó sủa ong óc lúc xóm
gần, lúc làng xa như có động vì quân cảnh đuổi bắt lính trốn. Một
số tiểu đoàn đã lục tục lên đường. Cái dự cảm lên đường hồi hộp
nao lòng, bắt đầu từ những tiếng chó sủa đêm đêm, từ những
đoàn gia đình nhà lính vào thăm ngày càng nhiều. Bố mẹ tôi cũng
vào thăm một lần. Tôi gửi lại cây guitar mang theo vào đơn vị cho
bố mang về. Cây đàn này nay vẫn còn, đang treo trên tường.
Chiều hôm song thân ra về, tôi tiễn ra đến đường cái quan. Nhớ
mãi hình ảnh bố gò lưng đạp cái xe Nam ngược gió Bắc ra ga
Phủ Lý, đèo mẹ đằng sau tay chống cây đàn. Bố mẹ tôi là viên
chức nghèo, không có tiền nhiều để cho. Nhưng một số anh em
gia đình buôn bán hay có nghề phụ gia công được cho khá nhiều.
Chúng tôi gom tiền, mua hàng mũ trứng vịt luộc ăn với nhau.
Ngày chủ nhật trước khi lên đường, cả bọn đụng luôn con chó
gié. Bác chủ nhà đi đạo không ăn thịt chó nhưng thương mấy
đứa sắp phải vào chiến trường, đứng ra gọi người làm hộ. Bên
bờ ruộng khô trắng vì gió bấc đầu mùa, anh ba toa rút những
nắm rơm nhỏ đốt quạt phành phạch, lật đi lật lại con chó, thui lại
những chỗ da còn trắng. Tụi lính lui cui vây xung quanh vun đốt
bụi cây muồng khô. Quả muồng nổ lốp đốp trong lửa. Da chó dần
vàng rộm, căng nứt ra những chỗ quá nhiệt. Mùi rơm đốt, mùi
muồng cháy, mùi chó thui bên bờ ruộng quẩn quanh rặng bạch
đàn trong gió đầu đông.
Đó là ngày chủ nhật cuối cùng trên đất Bắc. Tôi chỉ nghĩ đơn giản
nếu được vào miền Nam cũng tốt. Một vùng đất mới chỉ biết qua
sách vở. Vào đó may có khi được đi Sài Gòn xem dinh Độc Lập,
đi Cà Mau xem sân chim hay xuống Cần Thơ chỗ anh Phát tôi
đóng quân, ăn trái cây một bụng ngon hết sảy như anh ấy kể.
Hoàn toàn không có một khái niệm về cuộc chiến tranh biên giới
Tây Nam. Các vụ lấn chiếm lẻ tẻ của Pôn Pốt mà báo đài đưa tin
không gây một ấn tượng gì. Dẹp mấy vụ đó có các sư đoàn thiện
chiến hùng mạnh cùng một đống vũ khí tối tân của Mỹ vừa thu
được. Liệu bọn nó sức mấy. Đơn vị mình vào đó có khi chỉ làm
nhiệm vụ xây dựng kinh tế là cùng. Hồi đó không chỉ tôi mà nhiều
người nghĩ như thế.
Chuyến tàu quân sự
S
ÁNG HÔM 18/11/1978, tiểu đoàn huấn luyện báo động di chuyển,
hành quân ra Phủ Lý.
Từ Mậu Chử ra thị xã chỉ khoảng 6km nên đến gần trưa đã tới
nơi. Các tiểu đoàn khác trong trung đoàn huấn luyện (E104) đã
tập kết đầy đủ. Cổng sân vận động được đóng chặt lại. Trưa hôm
đấy, toàn trung đoàn ăn bánh mì trừ bữa. Khoảng 2h chiều, một
đoàn văn công quân đội đến biểu diễn úy lạo. “Đường ra trận
mùa này đẹp lắm. Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây”. Tôi
không nhớ Trường Sơn Tây, tôi nhớ mẹ tôi, nhưng thấy may khi
mẹ tôi không có mặt. Lúc này lòng dạ đâu mà nghe hát. Một số
thằng lính tai quái ngồi gần ném rào rào những khẩu xương mía
nhai dở lên sân khấu. Các ca sĩ vừa say đắm hát, vừa né những
tạc đạn vô hồi.
Khoảng 4 giờ chiều, đơn vị hành quân vào ga Phủ Lý giữa hai
hàng vệ binh. Từ sân vận động ra ga tàu chỉ khoảng 1 cây số. Tôi
đi trong đội hình hành quân, ngoái lại thấy con em gái với mẹ
thằng Thắng Hàng Bè, thêm gia đình thằng Lâm và một số gia
đình khác đuổi theo hàng quân. Họ đến thăm thường nhật, bất
ngờ với cuộc chuyển quân này. Thằng Thắng học khác lớp
nhưng cùng trường với tụi tôi. Đám đàn bà con gái xông vào
nhưng bị vệ binh gạt ra. Mấy thằng lính Hà Nội nổi khùng vặc lại.
Đội vệ binh không làm căng, để mặc họ ôm quấn lấy nhau trong
nước mắt. Hình ảnh này in đậm trong tâm trí, thành thử bây giờ
khi xem lại đoạn đầu đặc tả cảnh tòng quân trong phim Đàn sếu
bay qua, cổ họng tôi như nghẹn lại. Một cô gái váy trắng lớ ngớ
len lỏi tìm người yêu đi lính giữa hai hàng thiết giáp. Tiếng kèn
vang vọng lên hành khúc. Hộp bánh bích quy sinh nhật tặng
người yêu đổ òa tan vụn dưới vòng xích xe tăng, tan vụn dưới
những gót quân hành.
Bốn đứa cùng lớp, cùng đơn vị tách thành hai nhóm. Khi lên tàu
yên vị, tôi với thằng Tuấn Anh ngồi cạnh nhau. Thằng Bình, thằng
Hiệp ngồi ở toa khác. Các cửa toa đóng lại. Hàng lính cảnh vệ và
những người thân hôm đó vô tình lên thăm bộ đội ráng ở lại đến
cuối chiều chờ phút chia ly. Tàu chuyển bánh, sân ga lùi dần.
Ga Nam Định, tàu dừng một lát ngắn. Rất đột ngột, bố thằng
Tuấn Anh xuất hiện ở ngay đầu toa. Ông học ngành đường sắt ở
Bắc Kinh, lúc đó đang là trưởng phòng điều độ ga Hàng Cỏ nên
biết rõ hành trình của các chuyến tàu. Chỉ ông mới có đủ trách
nhiệm và quyền hạn để lên được toa quân sự này. Ông cho
chúng tôi một ít tiền, dặn rằng: “Anh em chúng mày dù ở đâu
cũng phải bao bọc lấy nhau”. Bố nó cũng như bố tôi. Mấy tháng
trước khi vừa thi xong được nghỉ hè, chúng tôi còn đạp xe lang
thang ngoài đường. Đi chơi về muộn, chổng mông tắm ở máy
nước công cộng cho khỏi nóng. Khuya mới về nhà nó lục cơm
nguội ăn rồi lăn ra nền ngủ. Sự hiện diện của ông tại toa này như
nhắc những ngày hè học sinh cuối cấp còn rói tươi hoa phượng.
Ông lặng lẽ xuống toa, lên chuyến tàu tránh ngay tại đó ngược
trở lại Hà Nội. Tôi vẫn nhớ lúc đó trời còn chưa tối hẳn, mặc dù
mấy ngọn đèn hành lang trên ga đã heo hắt sáng.
Con tàu trôi vào đồng bằng tối đen. Những chấm vắng đèn đêm
xa lắc, ngược chậm qua cửa sổ trong tiếng bánh xe lăn ù ù. Đến
sáng, sự buồn chán hôm trước tan biến. Chúng tôi dán mắt vào
khung cảnh bên đường luôn thay đổi. Những vùng đất trước chỉ
biết qua sách vở đang trôi qua cửa sổ khiến lòng người háo hức.
Đường sắt Quảng Bình nhiều đoạn chạy lút giữa dải đồi gianh
cao ngập đầu người. Đoạn đường đất heo hút cắt ngang, có đám
em bé mặc áo mà không có quần nheo nhóc trông theo. Cây cầu
sắt nhỏ bắc qua lạch nước réo lên ù ù khi tàu vượt. Con ngòi lẩn
trong vòm tre vùng thượng du có màu xanh thủy tinh đặc biệt.
Những con sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu nào đó, mới nghe tên như
đã gọi mưa miền hoang vu xa vắng. Cung đường sắt xuyên Việt
được đánh dấu từng tên ga trong cuốn lịch bỏ túi xinh xắn. Tôi
chúi mũi vào đó để tra tên ga xép, biết mình đang đi qua đâu.
Một phác thảo theo ấn tượng còn lại:
“Cầu Hiền Lương bé tí.
Cửa Tùng bên tay trái xa kia.
Nơi đó cách đây 18 năm,
Nửa đêm bố đạp xe ra Hồ Xá.
Đánh điện về nhà đặt tên cho mình.
Lịch kịch! Rình rình…
Quảng Trị cát trắng.
Những ruộng ớt đỏ.
Những con đường vắng.
Những nhà tôn tạm bợ không người.
“Đây là ga Huế!”
Các công tằng tôn nữ mập và đen.
Vị trà đá uống chưa quen.
Lăng Cô: năm hào một đống ghẹ luộc.
Hải Vân đệ nhất hùng quan,
Hổn hển hai đầu tàu kéo đẩy.
Chui hầm tối.
Lính mồm reo,
Mắt chợt xót cay đầy bụi.
Chẳng cái ngu nào giống cái ngu này!
Đà Nẵng tàu chạy giật lùi.
Tam Kỳ: Đồồng rỡi một con gồ.
Dịch mãi mới ra
Eng nói thế
Bố thằng tây nó hiểu.”
Hành trình xuyên Việt bằng xe lửa kết thúc ở ga Hố Nai. Đoàn
lính mới vào trạm Long Bình, sau đó được chuyển về căn cứ Sư
đoàn 9 ở Trảng Lớn, thị xã Tây Ninh.
Trảng Lớn – Tây Ninh
T
HỊ XÃ BIÊN GIỚI bé nhỏ xanh ngắt, nằm yên tĩnh giữa vùng đất
đỏ. Đoàn xe quân sự vừa dừng bánh, các dì, các em chìa tận
cửa xe mời mua những bịch nước mía đá, những gói kẹo đậu
phộng. Lời rao véo von vui tai như câu hát giỡn. “Mía ghim mía
ghim. Năm hào một cây mía ghim...” xe lôi, xe thổ mộ đôn đáo
ngược xuôi. Toà Thánh Cao Đài, chợ Long Hoa người đi lại nhộn
nhịp. Đám đông dân chúng điểm nhiều sắc lính áo xanh. Trong
quán cóc, dăm ba thương binh đại ca chống nạng băng tay phì
phèo thuốc rê, ánh mắt kẻ cả âu sầu nhìn đoàn lính ngố.
Chúng tôi được gom vào Tiểu đoàn 31, một tiểu đoàn với chức
năng huấn luyện bổ sung của Sư đoàn 9 tại căn cứ. Nhưng
những ngày ở đó cũng không huấn luyện thêm gì. Quanh Trảng
Lớn
1. Lời tựa
2. Nhập ngũ
3. Tân binh
4. “Trịnh Công Sơn” làm cỏ lúa
5. Chủ nhật cuối cùng
6. Chuyến tàu quân sự
7. Trảng Lớn – Tây Ninh
8. Hai cây đàn guitar
9. Lên chốt
10. Chuột tinh
11. Bắn cá cải thiện
12. Chiến công đầu tiên
13. Tết Quân đội biên giới năm 1978
14. Chốt Long An tháng 12/1978
15. Rừng Tràm – Trận đánh đầu tiên
16. S'vay Rieng
17. Trăng liềm hướng địch
18. Vẫn còn ngày xanh
19. Kachiusa bên bờ sông Niek Luong
20. Đập vỡ cây đàn
21. “Ăn cơm đúng kẻng”
22. Cháo gà đêm
23. Khế ước cách mạng
24. Ngọt như trái mít
25. Prek K'dam
26. Tiếng lục lạc bò
27. Tết chiến trường
28. Lăm thon gái góa
29. Giải vây sư 341
30. Chửi nhau với địch ở Oudong - Uống nước xác người trong
đường sắt
31. Ngày 17 tháng 2 năm 1979
32. Tiếng hú chim thiêng
33. Chính trị viên đại đội
34. Nối dây đêm
35. Lá thư đô thị
36. Ga Rômia
37. Hàng phố bâng khuâng
38. Rùa vàng và tê tê
39. Đồ cổ
40. Duyên đạn cuối tầm
41. Lung lay bóng nguyệt
42. Am Leang
43. Tìm diệt
44. Mùa khô rừng khộp
45. Kho súng
46. Áo trận
47. Mất chốt (15/4/1979)
48. Đêm phum dừa cụt
49. Ném nhau với địch
50. Phá vây
51. Vượt đỉnh Aoral
52. Thành phố buồn
53. Đường bò
54. Đi săn Tà Mốc
55. Loạt đạn gọi hồn
56. Hổ phum Kà rọi
57. Ngủ chung với địch
58. Ruồi vàng
59. Buổi chiều máu
60. Phum rừng thị
61. Thị trấn Ponley
62. Một đòn chết bảy
63. Con nuôi
64. Trâu điên
65. Sập bẫy
66. Ma đói mùa mưa
67. Dơi quạ
68. Mìn “xin một chân”
69. Nấm độc
70. Nữ chiến binh Kh'mer Đỏ
71. Cao điểm 701
72. Dào dạt võng đưa
73. Kampong Ch'nang
74. Tự giải quyết phép
75. Chuyến tàu lậu vé
76. Nỗi sợ
77. Tết Canh Thân
78. Hải trình
79. Lỡ hẹn
80. Quý nhân phù trợ
81. Chuyến tàu chiều
82. Cứ Ba Tahean
83. Kẹp núi oan hồn
84. Thịnh đen và Cáp đen
85. Lũ rừng
86. Chim cu
87. Cự Kỳ đà
88. Cây cỏ bình thường
89. Túy ngọa sa trường
90. Bắt tóp thuốc rê
91. Văn nghệ Quân đội trên chiến trường
92. Cây dầu rái có ma
93. Màu tím hoa sim
94. Hổ trắng
95. Cái mới
96. Mưa rừng
97. Khẩu đội đại liên
98. Săn bắn cải thiện
99. Mắc mùng cho chó
100. Hai phát K.59
101. Đồng hồ Orient
102. Thầy bói
103. Bắn tỉa
104. Đi soi cá
105. Đi tải gạo
106. Đường vào biên giới
107. Thủ đô Hai Mươi Nhà và khu Năm Nhà
108. Con đường bí mật
109. Đại bàng
110. Hình chụp thiên thu
111. Tiếng cối đêm sương
112. Rừng thiêng
113. Cú tát tất niên
114. Đêm ga Pursat
115. Tết Tân Dậu 1981 – Tết thứ 3 đời lính
116. Thốt nốt
117. Kiến leo cành xoài
118. Rắn cắn chó
119. Sàri kakeo – Chim sáo
120. Hành khúc trung đoàn
121. Má nuôi
122. Xe lôi lịch sự
123. Thị trấn S'toung
124. Câu chuyện Ph'nom Penh
125. Cơn gió màu xanh
126. Chùa Bạc Hoàng cung
127. Tháo khoán
128. Vịt đầu đỏ
129. Phương Dung và Jeanette trên chiến trường
130. Đêm cuối
131. Đêm đầu tiên đất Việt
132. Nước mắt quê hương
133. Lời bạt
134. Chú thích
Hồi ức của Xuân Tùng – nguyên Trung sĩ Thông tin, phục vụ tại
Tiểu đoàn Bộ binh 4, Trung đoàn 2,
Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 trong thời gian
Chiến tranh Biên giới Tây Nam 1978-1983.
Lời tựa
T
ÔI LÀ MỘT NGƯỜI LÍNH BỘ BINH, đã tham gia cuộc chiến tranh
bảo vệ biên giới Tây Nam, đánh đổ chính phủ diệt chủng Kh'mer
Đỏ từ năm 1978 đến năm 1983.
Sau hơn bốn năm rưỡi dọc dài các nẻo chiến trường đất nước
Chùa Tháp, tôi trở về bước lên bậc thềm nhà đúng chiều 23 Tết
Quý Hợi 1983. Bốn năm đầy hy sinh gian khổ, với rất nhiều bạn
bè đồng đội tôi đã không trở về. Cuộc sống làm ăn xô cuốn,
nhưng những gương mặt thân quen ấy nhiều đêm trở lại. Tên các
anh em vẫn luôn được nhắc trong những ngày kỷ niệm, trong hàn
huyên lính cũ bên cốc bia hơi vỉa hè hàng phố. Chính họ đã nhắc
tôi kể lại câu chuyện Tây Nam này, dù tôi không phải nhà văn,
nhà báo. Tên tuổi các anh em tôi giữ nguyên không đổi, như là họ
vẫn còn sống trên đời.
Cũng bởi ngại ngần chưa dám nhờ ai, nên tôi tự mình viết luôn
lời tựa cho cuốn sách này, như một người lính được lệnh bước
lên dưới quân kỳ, tự giới thiệu mình trước mặt hàng quân.
Ba mươi sáu phố phường yêu dấu ta ơi
Mỗi một người đi hồn nhói tên một phố
Gió chôn vội mắt đêm nhiều ô cửa
Sáng nay mưa buồn lòng còn mỗi ngoại ô.
Hà Nội, mùa hè năm 2017
Nhập ngũ
T
ÔI VĨNH BIỆT TUỔI HỌC TRÒ bằng một cú va chạm mạnh.
Miền Bắc hồi đó, chị em toàn dùng một loại “quang treo” cùng
một kiểu. Nó dày, các lớp vải được tích kê đồng tâm chặt với
nhau thành hình nón. Đặc biệt cái mũi cứng và nhọn hoắt nên sơ
mi mặc ngoài tại vị trí đó bị sờn trước tiên. Chẳng ai tò mò nhìn
mãi vào đấy nhưng không hiểu sao nó cứ thường xuyên chọc vào
mắt. Người nào ham sưu tầm các tranh cổ động hẳn biết cái
“quang treo” kiên cố đó nó ảnh hưởng đến nền mỹ thuật hội họa
tuyên truyền cổ động của chúng ta như thế nào. Trên các áp
phích này thường thể hiện anh công nhân vạm vỡ chắc tay búa,
gương mặt cương nghị rắn rỏi. Đứng cạnh là cô gái nông dân
khỏe khoắn, dồi dào núi đôi, cầm liềm vươn tới cánh đồng năm
tấn. Tôi năm đó 18 tuổi, đang học lớp 10 trường Phan Đình
Phùng - Hoàng Diệu, phố Cửa Bắc hệ 10 năm. Thằng con trai 18
tuổi thời đó còn dại lắm, không quái như bọn trẻ con bây giờ. Vẫn
dở ông dở thằng, đôi khi còn mặc quần đùi thông lổng ra hồ Hoàn
Kiếm câu tôm trong những ngày nghỉ. Một lần cùng bọn con trai
đuổi nhau trong trường, tôi chạy ngoặt qua cái góc cầu thang gỗ,
ngực va sầm vào một cô giáo thực tập đang đi lên. Tôi đỡ cô giáo
dậy, lúng búng xin lỗi rồi xấu hổ biến mất. Nhưng vết sẹo vô hình
bởi sự va chạm chết người trên ngực thì không mất, nó lẩn quất
đâu đó mãi trong đầu. Vết sẹo vô hình thời áo trắng làm tính tình
trở nên chững chạc thanh niên hơn hẳn.
Thời đó áo trắng cũng hiếm. Gần nửa thời gian thơ ấu của tôi
sống cùng Hà Nội dưới trời bom Mỹ thả. Thêm hai lần sơ tán nối
nhau. Áo trắng của tôi bị nhúng vào chậu xanh-mê-ti-len do bố
mang về để nguỵ trang. Tuổi thơ trải qua chiến tranh phá hoại
quả thật không may cho một đứa trẻ con. Nhưng chính những
trận bom, tầm cao xạ cùng tiếng B.52 rền trời ấy làm tôi không bị
bất ngờ trong chiến trận sau này. Cũng chính cuộc sống nơi sơ
tán thôn quê đã giúp mình tự lập, thay đổi thói quen, thích nghi
với những hoàn cảnh khó khăn dã ngoại. Sau kỳ thi đại học năm
1978, tôi đi nghỉ hè trên viện bố tôi công tác ở Vĩnh Phúc. Ngày
chủ nhật, tôi theo nhân viên viện ông lên Tam Đảo chơi. Tháng
tám, đang mùa thu hoạch cây xuyên khung. Thị trấn trên núi vắng
teo, thơm ngát mùi xuyên khung héo phơi đầy trên những con
đường dốc.
Chiều tối, khi trở về gần đến Vĩnh Yên trời đổ cơn mưa. Ngoài
cửa sổ xe ca hồng thập tự, một đoàn lính đang lặng lẽ hành
quân. Họ trùm ni lông sù sù, cắm cúi bước trên con đường ướt
loáng ánh đèn pha. Trong xe thật ấm, và chỉ một chút nữa thôi là
về đến nhà để duỗi dài đôi cẳng đã mỏi nhừ vì leo dốc núi, mở
chiếc đài Hồng Đăng trong phòng nghe ca nhạc. Nhưng có một
điều gì đó như dự cảm đồng vọng, bắt tôi phải nhìn theo mãi
đoàn quân ấy. Dự cảm bỗng trở thành hiện thực trong vòng 30
phút. Về đến viện gặp bố, ông bảo: “Mai về Hà Nội. Con có lệnh
nhập ngũ”.
Chỉ bốn tháng sau, chúng tôi đã thành đồng đội, cũng hành quân
rạc rài như thế, cũng chui hầm ngủ đất, không biết sống chết thế
nào ở một nơi xa lắc.
Tân binh
S
Ẽ LÀ MỘT THIẾU SÓT LỚN trong câu chuyện biên giới Tây Nam
khi không nhắc gì đến làng quê chúng tôi huấn luyện tại đó trước
khi vào chiến trường. Nơi đây xóm Núi, thôn Lãm, huyện Kim
Thanh, tỉnh Hà Nam Ninh, gần ga Bình Lục. Một làng quê Bắc Bộ
vùng đồng chiêm trũng điển hình. Những ngọn đồi thấp cắm chân
thẳng xuống đồng sâu. Tre gai bao bọc lấy làng thành lũy dày
ngăn ngắt.
Dân làng nghèo, nhiều nhà phải ngả cả cánh cửa xuống, lấy chỗ
nằm cho bộ đội. Tôi với Tuấn Anh được anh Ly tiểu đội trưởng
đưa về nhà một chị có chồng đi lính chống Mỹ. Chị có thằng bé
con mới học lớp một. Tuấn Anh cho nó cái bánh mì. Nó nhìn mẹ
rồi ngập ngừng cầm lấy. Đã ba năm kể từ ngày thống nhất, chồng
chị vẫn không có tin tức gì. Chị rất ít nói, buồn như một cái bóng.
Mờ đất, khi chúng tôi mới nghe tiếng còi báo thức sáng của anh
Ly đã thấy chị cuốn xà cạp vào chân, kéo cành rong tre lấp cổng
ra đồng rồi.
Xà cạp là miếng vải cuốn vào bắp chân, cao đến tận đùi để chống
đỉa. Đồng chiêm trũng nên đỉa rất nhiều. Đỉa hẹ nhỏ, mỏng như
cái que, hai lườn vàng choé nhưng rất thính, động nước là lao
đến liền. Con này rất sợ vì nó tham ăn, lại hay luồn lách được
vào những chỗ không ngờ. Đỉa trâu là nỗi khủng khiếp nhất. Khi
đói nó co lại chỉ bằng cái dái mít. Khi đã no máu, nó trương lên
cỡ chục lần bằng quả chuối tiêu.
Những buổi chiều tập xong ngồi nghỉ ở sân kho cũng là lúc đàn
trâu hợp tác đi cày về. Trâu dồn ở sân kho trệu trạo nhai lại, ngửi
hít cọ sừng cồng cộc. Trên đùi bầy trâu thường có một túm đỉa
lúc lỉu căng máu. Chúng tôi bẻ cành rong, hò nhau đi bắt đỉa cho
từng con. Những con đỉa khủng long rơi xuống, lấy chân dẫm lên
day mạnh. Hai tia máu đỏ phọt ra từ cả hai đầu thành vòi, vụt xa
đến cả mét. Vẫn chưa hả, chúng tôi đốt rơm, gắp lũ đỉa thảy vào.
Những con đỉa nổ trong lửa bụp bụp, tiết dở sống dở chín văng
tung toé. Thằng Trương muốn thể hiện bản lĩnh trước anh em. Nó
nướng cháy từ từ một con đỉa cho đến khi vỏ ngoài thành than.
Hắn bóc cái vỏ da đỉa đen cháy, cầm miếng tiết trâu nóng hổi cho
thẳng vào mồm nhai, nhăn nhở mặt làm trò.
Một tuần sau, thấy chúng tôi ở nhà chị ấy có vẻ không tiện, anh
Ly lại lôi hai thằng tôi về ở cùng. Nhà này khá to, có thềm đá mái
ngói, vốn là nhà tịch thu của địa chủ thời cải cách ruộng đất. Ông
chủ nhà là chủ nhiệm hợp tác xã có con đi bộ đội trong Nam. Hai
ông bà cùng cô con gái út 17 tuổi tên là Độ ở nhà trên. Bọn tôi
được xếp ở nhà ngang phía dưới. Toàn bộ khu nhà đó nằm thoải
từ chân núi xuống cái giếng cạnh đường làng.
Cái giếng sâu lắm, dây lại ngắn nên mỗi lần Độ cúi nhoài người
giật gàu múc nước thường bị lạnh lưng hở sườn. Khoảng mát
trong thanh khiết thấp thoáng dưới tà áo xanh chàm. Những ngày
mưa ngâu, chúng tôi không ra thao trường được, nằm tập ngắm
bia con chấm bút bi ở trong nhà sao cho tia ngắm chụm. Ngắm
bia thì ít, ngắm phần trăng trắng dưới vạt áo đang múc nước
ngoài giếng kia thì nhiều. Mục tiêu di động này thu hút hơn bia.
Anh Ly tiểu đội trưởng bực mình nổi máu quân tử mã thượng, đi
mua một cái chạc dài thay cho cái dây gàu ngắn. Lại bắt tụi tôi
mỗi đứa mỗi ngày hai gánh nước đổ lên bể trên cho nhà em Độ.
Em Độ không cảm cái oai với sợi thừng dài của anh Ly mà thông
cảm với chúng tôi. Ngày đó quán bà Bóp cây đa bán 2 hào một
quả bưởi. Sau khi bộ đội về làng, bà điều chỉnh giá lên kịch
đường tàu thành 5 hào. Tôi với thằng Tuấn Anh ở đó thích là có
bưởi ăn liền, khỏi mua vì Độ cho. Bưởi đầy sau núi vườn nhà. Tối
thứ tư sinh hoạt trung đội đọc báo sân kho. Tôi cáo ốm không đi.
Lúc về anh Ly đi khẽ, lia đèn pin thấy tôi không ốm, đang ngồi ăn
bưởi rinh rích vô tư cùng em trên bực giếng. Anh Ly hầm hầm ra
lệnh: “Từ nay ngồi nói chuyện với phụ nữ hoặc với nữ đoàn viên
thanh niên địa phương ban tối thì phải đốt đèn dầu. Đèn dầu phải
để giữa hai người”.
Có ai còn nhớ quả chấp? Nó giống như quả cam, vỏ màu vàng,
múi bên trong chua gắt. Độ hay gội đầu bằng nước bồ kết nướng,
thêm nhánh sả và mấy miếng vỏ bưởi. Em đứng dưới sân, xổ tóc
ra trong chậu nước đặt trên thềm đá cao, từ từ chải thật kỹ, thật
cẩn thận. Sau cùng nước tráng vắt nửa quả chấp vào chải tiếp.
Nước quả chấp chua làm cho tóc mượt mềm. Đâu đó xong xuôi,
Độ vuốt tóc cho nước xuôi xuống. Động tác cuối cùng là mê ly
nhất, em đứng giữa sân, nắm suối tóc sát đầu ngay ngọn nguồn
rồi quay vù vù như máy bay lên thẳng. Mái tóc nặng, vóc hình
thôn nữ khỏe khoắn lắc dẻo như múa ba lê, phơi cái cổ thon thon
tròn nõn chuối. Nước mát li ti, thơm bay lỏa tỏa khắp mặt sân kết
cầu vồng trong nắng. Tưởng như có thể bay lên được vì tóc em
dài lắm.
Tôi trở lại thăm nơi huấn luyện cũ ở xóm Núi, thôn Lãm, huyện
Kim Thanh, tỉnh Hà Nam Ninh năm 2010. Hỏi thăm em Độ, người
làng nói em đã mất, bị đuối nước ngoài cống Non. Cái sân kho
đại đội tập thể dục trước cũng không còn. Ngậm ngùi tìm lại nhà
thắp cho em mấy nén nhang, để lại chút quà nhỏ rồi đi.
“Trịnh Công Sơn” làm cỏ lúa
S
AU KỲ BẮN ĐẠN THẬT, khoa mục tập nhàn hẳn. Buổi sáng lười,
trốn tập thể dục không ai nói. Chúng tôi có thời gian lần mò cải
thiện tẩm bổ. Nắng đi vớt ốc bươu, mưa mượn lưới dân đi lưới
cá ở ao hợp tác vượt ra mương. Dù đã vượt bờ nhưng cá hợp
tác vẫn là cá tập thể. Đất quê vùng chiêm trũng mơ màng trong
những buổi trưa hanh gắt nắng rám trái bòng. Giống ốc bươu ốc
nứa vỏ mỏng vàng xọng, dồn khí bên trong từ từ nổi lên trên mặt
nước, nhờ cơn heo may dài rộng đủng đỉnh làm chuyến viễn du
trên mặt sóng lăn tăn. Nghỉ trưa mang vợt ra đi vớt ốc. Ốc mùa
này tích mỡ ngủ đông nên béo lắm. Trong những bó rạ được
người ta buộc túm, bỏ lại trên ruộng chờ khô để rải liếp màu là
nơi trú ngụ của cua đồng. Nhấc ra chắc chắn túm được dăm con.
Còn trong những dấu thụt chân người đọng nước trên mặt bùn
đã xanh rêu, thọc tay khua khoắng cũng túm được mấy con cá
đòng đong, mài mại hay cá giếc nhỏ đem về nhờ chủ nhà kho
khế.
Những chiều cuối thu, nằm dài trên bờ mương dưới bóng bạch
đàn ngắm bia mẹ con, ngắm các em cong mông đẩy xe cải tiến.
Đồng đã gặt xong vắng tênh. Chân rạ bời bời sắp hàng trắng
mốc, tương phản với bầu trời kéo ngược hút lên sâu thăm thẳm.
Không gian bắt đầu chuyển lạnh thấy rõ. Đất chỗ đơn vị tôi huấn
luyện ở cách Bình Lục, Yên Đổ, quê cụ Tam Nguyên chưa đến 4
cây số. Hẳn ngày xưa, cụ cũng sống trong cái không gian đồng
đất xóm mạc Bắc Việt cuối thu buồn bã này nên mới bị cảm lạnh,
mà than rằng “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo”.
Thời gian huấn luyện, khẩu phần ăn của bộ đội cực kỳ kham khổ.
Bữa sáng ăn ngô xay nấu như kiểu nấu cơm, có cho chút vôi để
ngô mềm, thường thường là nát như bánh đúc. Gác ca cuối tôi
hay mò vào cạy cửa bếp ăn vụng cháy. Trên mỗi chậu nhôm chia
ngô, chị nuôi úp một miếng cháy. Cháy ngô nấu chảo gang dày
khi ăn nóng khá giòn và ngon. Bữa trưa và chiều thì cơm ngô
theo tỷ lệ 50/50. Thức ăn là rau muống chấm nước mắm gạo
rang. Một chút cá khô mục nữa. Còn thịt hồi đó được định nghĩa
là thức ăn hằng ngày của nhân dân mà bằng mắt thường ta
không thể nào nhìn thấy được.
Thằng Long “Nhuận” ở 54 Hàng Giấy, gần hiệu sách Yên Sơn, có
mang theo một cây guitar. Nó là học trò ông Văn Vượng, chơi
classic khá hay. Ngón trémolo(1) những bài Bài ca hy vọng, Vũ
khúc Tây Ban Nha... nghe không khác trên đài là mấy. Tôi cũng
mới tập tọe học chơi. Đã thế lại còn thích sáng tác. Một sáng tác
nhái của tôi theo giai điệu bài Hạ trắng của Trịnh Công Sơn thế
này:
“Tuyệt quá.....!
Bữa cơm chúng mình
Toàn rau muống xanh
Bát cơm ngô vàng
Đệm cho món canh
Tép kho hôi rình
Ngửi sao thấy tanh
Nghẹn không muốn nuốt
Biết sao bây giờ...?
Cho nên em buồn
Cho nên em chuồn
Về nơi phố cũ....”
Nhiều đứa không biết Hạ trắng là bài nào, nhưng lại thuộc lòng
cái lời xuyên tạc chết tiệt. Một tối, đang gân cổ say sưa trình tấu
Hạ trắng thì anh Cường chính trị viên vồ được. Anh ấy hỏi:
“Thằng nào sáng tác bài hát này?”. Tôi bảo: “Dạ là Trịnh Công
Sơn”. Anh ấy bợp tai tôi phát, bảo: “Đồng chí đừng có bố láo. Đại
đội này không có quân nhân nào tên là Trịnh Công Sơn cả. Mai đi
làm cỏ lúa!”.
Ba hôm liền, cứ sau bữa trưa, mọi anh em về đánh giấc thì tôi ra
ruộng làm lao công dưới sự giám sát của anh Ly tiểu đội trưởng.
Anh ấy lầm bầm chửi: “Tiên sư mày, vì nhân dân quên mình
không hát, đi hát nhăng hát cuội. Tiên sư mày, vì mày mà bố mày
khổ lây”.
Chủ nhật cuối cùng
S
AU MỘT THỜI GIAN, chúng tôi được chuyển ra phía ngoài Mậu
Chử. Xóm đạo bé nhỏ có cây cầu xi măng bắc qua kênh đầu
làng. Đơn vị huấn luyện tá túc tại đây đã hành quân trước vào
Nam. Đêm nằm nghe tiếng còi tàu rít u u .. Chẳng biết bao giờ
đến lượt đơn vị mình lên đường.
Đêm cuối thu càng lúc càng lạnh. Tiếng chó sủa ong óc lúc xóm
gần, lúc làng xa như có động vì quân cảnh đuổi bắt lính trốn. Một
số tiểu đoàn đã lục tục lên đường. Cái dự cảm lên đường hồi hộp
nao lòng, bắt đầu từ những tiếng chó sủa đêm đêm, từ những
đoàn gia đình nhà lính vào thăm ngày càng nhiều. Bố mẹ tôi cũng
vào thăm một lần. Tôi gửi lại cây guitar mang theo vào đơn vị cho
bố mang về. Cây đàn này nay vẫn còn, đang treo trên tường.
Chiều hôm song thân ra về, tôi tiễn ra đến đường cái quan. Nhớ
mãi hình ảnh bố gò lưng đạp cái xe Nam ngược gió Bắc ra ga
Phủ Lý, đèo mẹ đằng sau tay chống cây đàn. Bố mẹ tôi là viên
chức nghèo, không có tiền nhiều để cho. Nhưng một số anh em
gia đình buôn bán hay có nghề phụ gia công được cho khá nhiều.
Chúng tôi gom tiền, mua hàng mũ trứng vịt luộc ăn với nhau.
Ngày chủ nhật trước khi lên đường, cả bọn đụng luôn con chó
gié. Bác chủ nhà đi đạo không ăn thịt chó nhưng thương mấy
đứa sắp phải vào chiến trường, đứng ra gọi người làm hộ. Bên
bờ ruộng khô trắng vì gió bấc đầu mùa, anh ba toa rút những
nắm rơm nhỏ đốt quạt phành phạch, lật đi lật lại con chó, thui lại
những chỗ da còn trắng. Tụi lính lui cui vây xung quanh vun đốt
bụi cây muồng khô. Quả muồng nổ lốp đốp trong lửa. Da chó dần
vàng rộm, căng nứt ra những chỗ quá nhiệt. Mùi rơm đốt, mùi
muồng cháy, mùi chó thui bên bờ ruộng quẩn quanh rặng bạch
đàn trong gió đầu đông.
Đó là ngày chủ nhật cuối cùng trên đất Bắc. Tôi chỉ nghĩ đơn giản
nếu được vào miền Nam cũng tốt. Một vùng đất mới chỉ biết qua
sách vở. Vào đó may có khi được đi Sài Gòn xem dinh Độc Lập,
đi Cà Mau xem sân chim hay xuống Cần Thơ chỗ anh Phát tôi
đóng quân, ăn trái cây một bụng ngon hết sảy như anh ấy kể.
Hoàn toàn không có một khái niệm về cuộc chiến tranh biên giới
Tây Nam. Các vụ lấn chiếm lẻ tẻ của Pôn Pốt mà báo đài đưa tin
không gây một ấn tượng gì. Dẹp mấy vụ đó có các sư đoàn thiện
chiến hùng mạnh cùng một đống vũ khí tối tân của Mỹ vừa thu
được. Liệu bọn nó sức mấy. Đơn vị mình vào đó có khi chỉ làm
nhiệm vụ xây dựng kinh tế là cùng. Hồi đó không chỉ tôi mà nhiều
người nghĩ như thế.
Chuyến tàu quân sự
S
ÁNG HÔM 18/11/1978, tiểu đoàn huấn luyện báo động di chuyển,
hành quân ra Phủ Lý.
Từ Mậu Chử ra thị xã chỉ khoảng 6km nên đến gần trưa đã tới
nơi. Các tiểu đoàn khác trong trung đoàn huấn luyện (E104) đã
tập kết đầy đủ. Cổng sân vận động được đóng chặt lại. Trưa hôm
đấy, toàn trung đoàn ăn bánh mì trừ bữa. Khoảng 2h chiều, một
đoàn văn công quân đội đến biểu diễn úy lạo. “Đường ra trận
mùa này đẹp lắm. Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây”. Tôi
không nhớ Trường Sơn Tây, tôi nhớ mẹ tôi, nhưng thấy may khi
mẹ tôi không có mặt. Lúc này lòng dạ đâu mà nghe hát. Một số
thằng lính tai quái ngồi gần ném rào rào những khẩu xương mía
nhai dở lên sân khấu. Các ca sĩ vừa say đắm hát, vừa né những
tạc đạn vô hồi.
Khoảng 4 giờ chiều, đơn vị hành quân vào ga Phủ Lý giữa hai
hàng vệ binh. Từ sân vận động ra ga tàu chỉ khoảng 1 cây số. Tôi
đi trong đội hình hành quân, ngoái lại thấy con em gái với mẹ
thằng Thắng Hàng Bè, thêm gia đình thằng Lâm và một số gia
đình khác đuổi theo hàng quân. Họ đến thăm thường nhật, bất
ngờ với cuộc chuyển quân này. Thằng Thắng học khác lớp
nhưng cùng trường với tụi tôi. Đám đàn bà con gái xông vào
nhưng bị vệ binh gạt ra. Mấy thằng lính Hà Nội nổi khùng vặc lại.
Đội vệ binh không làm căng, để mặc họ ôm quấn lấy nhau trong
nước mắt. Hình ảnh này in đậm trong tâm trí, thành thử bây giờ
khi xem lại đoạn đầu đặc tả cảnh tòng quân trong phim Đàn sếu
bay qua, cổ họng tôi như nghẹn lại. Một cô gái váy trắng lớ ngớ
len lỏi tìm người yêu đi lính giữa hai hàng thiết giáp. Tiếng kèn
vang vọng lên hành khúc. Hộp bánh bích quy sinh nhật tặng
người yêu đổ òa tan vụn dưới vòng xích xe tăng, tan vụn dưới
những gót quân hành.
Bốn đứa cùng lớp, cùng đơn vị tách thành hai nhóm. Khi lên tàu
yên vị, tôi với thằng Tuấn Anh ngồi cạnh nhau. Thằng Bình, thằng
Hiệp ngồi ở toa khác. Các cửa toa đóng lại. Hàng lính cảnh vệ và
những người thân hôm đó vô tình lên thăm bộ đội ráng ở lại đến
cuối chiều chờ phút chia ly. Tàu chuyển bánh, sân ga lùi dần.
Ga Nam Định, tàu dừng một lát ngắn. Rất đột ngột, bố thằng
Tuấn Anh xuất hiện ở ngay đầu toa. Ông học ngành đường sắt ở
Bắc Kinh, lúc đó đang là trưởng phòng điều độ ga Hàng Cỏ nên
biết rõ hành trình của các chuyến tàu. Chỉ ông mới có đủ trách
nhiệm và quyền hạn để lên được toa quân sự này. Ông cho
chúng tôi một ít tiền, dặn rằng: “Anh em chúng mày dù ở đâu
cũng phải bao bọc lấy nhau”. Bố nó cũng như bố tôi. Mấy tháng
trước khi vừa thi xong được nghỉ hè, chúng tôi còn đạp xe lang
thang ngoài đường. Đi chơi về muộn, chổng mông tắm ở máy
nước công cộng cho khỏi nóng. Khuya mới về nhà nó lục cơm
nguội ăn rồi lăn ra nền ngủ. Sự hiện diện của ông tại toa này như
nhắc những ngày hè học sinh cuối cấp còn rói tươi hoa phượng.
Ông lặng lẽ xuống toa, lên chuyến tàu tránh ngay tại đó ngược
trở lại Hà Nội. Tôi vẫn nhớ lúc đó trời còn chưa tối hẳn, mặc dù
mấy ngọn đèn hành lang trên ga đã heo hắt sáng.
Con tàu trôi vào đồng bằng tối đen. Những chấm vắng đèn đêm
xa lắc, ngược chậm qua cửa sổ trong tiếng bánh xe lăn ù ù. Đến
sáng, sự buồn chán hôm trước tan biến. Chúng tôi dán mắt vào
khung cảnh bên đường luôn thay đổi. Những vùng đất trước chỉ
biết qua sách vở đang trôi qua cửa sổ khiến lòng người háo hức.
Đường sắt Quảng Bình nhiều đoạn chạy lút giữa dải đồi gianh
cao ngập đầu người. Đoạn đường đất heo hút cắt ngang, có đám
em bé mặc áo mà không có quần nheo nhóc trông theo. Cây cầu
sắt nhỏ bắc qua lạch nước réo lên ù ù khi tàu vượt. Con ngòi lẩn
trong vòm tre vùng thượng du có màu xanh thủy tinh đặc biệt.
Những con sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu nào đó, mới nghe tên như
đã gọi mưa miền hoang vu xa vắng. Cung đường sắt xuyên Việt
được đánh dấu từng tên ga trong cuốn lịch bỏ túi xinh xắn. Tôi
chúi mũi vào đó để tra tên ga xép, biết mình đang đi qua đâu.
Một phác thảo theo ấn tượng còn lại:
“Cầu Hiền Lương bé tí.
Cửa Tùng bên tay trái xa kia.
Nơi đó cách đây 18 năm,
Nửa đêm bố đạp xe ra Hồ Xá.
Đánh điện về nhà đặt tên cho mình.
Lịch kịch! Rình rình…
Quảng Trị cát trắng.
Những ruộng ớt đỏ.
Những con đường vắng.
Những nhà tôn tạm bợ không người.
“Đây là ga Huế!”
Các công tằng tôn nữ mập và đen.
Vị trà đá uống chưa quen.
Lăng Cô: năm hào một đống ghẹ luộc.
Hải Vân đệ nhất hùng quan,
Hổn hển hai đầu tàu kéo đẩy.
Chui hầm tối.
Lính mồm reo,
Mắt chợt xót cay đầy bụi.
Chẳng cái ngu nào giống cái ngu này!
Đà Nẵng tàu chạy giật lùi.
Tam Kỳ: Đồồng rỡi một con gồ.
Dịch mãi mới ra
Eng nói thế
Bố thằng tây nó hiểu.”
Hành trình xuyên Việt bằng xe lửa kết thúc ở ga Hố Nai. Đoàn
lính mới vào trạm Long Bình, sau đó được chuyển về căn cứ Sư
đoàn 9 ở Trảng Lớn, thị xã Tây Ninh.
Trảng Lớn – Tây Ninh
T
HỊ XÃ BIÊN GIỚI bé nhỏ xanh ngắt, nằm yên tĩnh giữa vùng đất
đỏ. Đoàn xe quân sự vừa dừng bánh, các dì, các em chìa tận
cửa xe mời mua những bịch nước mía đá, những gói kẹo đậu
phộng. Lời rao véo von vui tai như câu hát giỡn. “Mía ghim mía
ghim. Năm hào một cây mía ghim...” xe lôi, xe thổ mộ đôn đáo
ngược xuôi. Toà Thánh Cao Đài, chợ Long Hoa người đi lại nhộn
nhịp. Đám đông dân chúng điểm nhiều sắc lính áo xanh. Trong
quán cóc, dăm ba thương binh đại ca chống nạng băng tay phì
phèo thuốc rê, ánh mắt kẻ cả âu sầu nhìn đoàn lính ngố.
Chúng tôi được gom vào Tiểu đoàn 31, một tiểu đoàn với chức
năng huấn luyện bổ sung của Sư đoàn 9 tại căn cứ. Nhưng
những ngày ở đó cũng không huấn luyện thêm gì. Quanh Trảng
Lớn
 





