Tài nguyên THƯ VIỆN

GÓC LỊCH SỬ- tự hào việt nam

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bản tin thư viện

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    486535576_687504323842812_4192407978136768961_n.jpg 486500788_687500893843155_8917663302820642951_n.jpg 486401439_687500637176514_6347543047210448692_n.jpg 486294196_687501327176445_6249731343958734534_n.jpg 486256531_687505017176076_4698278582158444056_n.jpg 486146484_687504613842783_7808117533976263193_n.jpg 486140471_687504337176144_5997173459261202020_n.jpg 486128752_687501447176433_2153146775747211441_n.jpg 486117905_687501973843047_5705350894154693155_n.jpg 486108360_687500860509825_7055729163068952091_n.jpg 486100845_687500907176487_7489795251974386868_n.jpg 486035662_687502307176347_2028289640818027344_n.jpg 486024179_687504430509468_37485015750359318_n.jpg 486011789_687502430509668_5915568254882798963_n.jpg 485931918_687500883843156_1958291412881915226_n.jpg 485926560_687504983842746_1036604437140465450_n.jpg 485926242_687504607176117_474982271559330172_n.jpg 485901515_687501970509714_3422404357053098050_n.jpg 485897349_687502257176352_7447090423107471980_n.jpg 485879015_687504650509446_564184650854094885_n.jpg

    sách nói

    Tủ sách kỹ năng sống

    Góc an toàn giao thông

    Please come in

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG - XÃ THANH MIỆN - TP HẢI PHÒNG

    THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG GIỚI THIỆU SÁCH CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH 26/3

    Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường Tiểu học Tứ Cường- Xã Thanh Miện- Thành phố Hải Phòng

    Chuyện lính Tây Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vương Thị Thu Hà
    Ngày gửi: 15h:19' 26-12-2025
    Dung lượng: 1.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    1. Lời tựa
    2. Nhập ngũ
    3. Tân binh
    4. “Trịnh Công Sơn” làm cỏ lúa
    5. Chủ nhật cuối cùng
    6. Chuyến tàu quân sự
    7. Trảng Lớn – Tây Ninh
    8. Hai cây đàn guitar
    9. Lên chốt
    10. Chuột tinh
    11. Bắn cá cải thiện
    12. Chiến công đầu tiên
    13. Tết Quân đội biên giới năm 1978
    14. Chốt Long An tháng 12/1978
    15. Rừng Tràm – Trận đánh đầu tiên
    16. S'vay Rieng
    17. Trăng liềm hướng địch
    18. Vẫn còn ngày xanh
    19. Kachiusa bên bờ sông Niek Luong
    20. Đập vỡ cây đàn
    21. “Ăn cơm đúng kẻng”
    22. Cháo gà đêm
    23. Khế ước cách mạng
    24. Ngọt như trái mít
    25. Prek K'dam
    26. Tiếng lục lạc bò
    27. Tết chiến trường
    28. Lăm thon gái góa
    29. Giải vây sư 341
    30. Chửi nhau với địch ở Oudong - Uống nước xác người trong
    đường sắt
    31. Ngày 17 tháng 2 năm 1979
    32. Tiếng hú chim thiêng
    33. Chính trị viên đại đội
    34. Nối dây đêm
    35. Lá thư đô thị
    36. Ga Rômia

    37. Hàng phố bâng khuâng
    38. Rùa vàng và tê tê
    39. Đồ cổ
    40. Duyên đạn cuối tầm
    41. Lung lay bóng nguyệt
    42. Am Leang
    43. Tìm diệt
    44. Mùa khô rừng khộp
    45. Kho súng
    46. Áo trận
    47. Mất chốt (15/4/1979)
    48. Đêm phum dừa cụt
    49. Ném nhau với địch
    50. Phá vây
    51. Vượt đỉnh Aoral
    52. Thành phố buồn
    53. Đường bò
    54. Đi săn Tà Mốc
    55. Loạt đạn gọi hồn
    56. Hổ phum Kà rọi
    57. Ngủ chung với địch
    58. Ruồi vàng
    59. Buổi chiều máu
    60. Phum rừng thị
    61. Thị trấn Ponley
    62. Một đòn chết bảy
    63. Con nuôi
    64. Trâu điên
    65. Sập bẫy
    66. Ma đói mùa mưa
    67. Dơi quạ
    68. Mìn “xin một chân”
    69. Nấm độc
    70. Nữ chiến binh Kh'mer Đỏ
    71. Cao điểm 701
    72. Dào dạt võng đưa
    73. Kampong Ch'nang
    74. Tự giải quyết phép
    75. Chuyến tàu lậu vé
    76. Nỗi sợ
    77. Tết Canh Thân

    78. Hải trình
    79. Lỡ hẹn
    80. Quý nhân phù trợ
    81. Chuyến tàu chiều
    82. Cứ Ba Tahean
    83. Kẹp núi oan hồn
    84. Thịnh đen và Cáp đen
    85. Lũ rừng
    86. Chim cu
    87. Cự Kỳ đà
    88. Cây cỏ bình thường
    89. Túy ngọa sa trường
    90. Bắt tóp thuốc rê
    91. Văn nghệ Quân đội trên chiến trường
    92. Cây dầu rái có ma
    93. Màu tím hoa sim
    94. Hổ trắng
    95. Cái mới
    96. Mưa rừng
    97. Khẩu đội đại liên
    98. Săn bắn cải thiện
    99. Mắc mùng cho chó
    100. Hai phát K.59
    101. Đồng hồ Orient
    102. Thầy bói
    103. Bắn tỉa
    104. Đi soi cá
    105. Đi tải gạo
    106. Đường vào biên giới
    107. Thủ đô Hai Mươi Nhà và khu Năm Nhà
    108. Con đường bí mật
    109. Đại bàng
    110. Hình chụp thiên thu
    111. Tiếng cối đêm sương
    112. Rừng thiêng
    113. Cú tát tất niên
    114. Đêm ga Pursat
    115. Tết Tân Dậu 1981 – Tết thứ 3 đời lính
    116. Thốt nốt
    117. Kiến leo cành xoài
    118. Rắn cắn chó

    119. Sàri kakeo – Chim sáo
    120. Hành khúc trung đoàn
    121. Má nuôi
    122. Xe lôi lịch sự
    123. Thị trấn S'toung
    124. Câu chuyện Ph'nom Penh
    125. Cơn gió màu xanh
    126. Chùa Bạc Hoàng cung
    127. Tháo khoán
    128. Vịt đầu đỏ
    129. Phương Dung và Jeanette trên chiến trường
    130. Đêm cuối
    131. Đêm đầu tiên đất Việt
    132. Nước mắt quê hương
    133. Lời bạt
    134. Chú thích

    Hồi ức của Xuân Tùng – nguyên Trung sĩ Thông tin, phục vụ tại
    Tiểu đoàn Bộ binh 4, Trung đoàn 2,
    Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 trong thời gian
    Chiến tranh Biên giới Tây Nam 1978-1983.

    Lời tựa
    T
    ÔI LÀ MỘT NGƯỜI LÍNH BỘ BINH, đã tham gia cuộc chiến tranh
    bảo vệ biên giới Tây Nam, đánh đổ chính phủ diệt chủng Kh'mer
    Đỏ từ năm 1978 đến năm 1983.
    Sau hơn bốn năm rưỡi dọc dài các nẻo chiến trường đất nước
    Chùa Tháp, tôi trở về bước lên bậc thềm nhà đúng chiều 23 Tết
    Quý Hợi 1983. Bốn năm đầy hy sinh gian khổ, với rất nhiều bạn
    bè đồng đội tôi đã không trở về. Cuộc sống làm ăn xô cuốn,
    nhưng những gương mặt thân quen ấy nhiều đêm trở lại. Tên các
    anh em vẫn luôn được nhắc trong những ngày kỷ niệm, trong hàn
    huyên lính cũ bên cốc bia hơi vỉa hè hàng phố. Chính họ đã nhắc
    tôi kể lại câu chuyện Tây Nam này, dù tôi không phải nhà văn,
    nhà báo. Tên tuổi các anh em tôi giữ nguyên không đổi, như là họ
    vẫn còn sống trên đời.
    Cũng bởi ngại ngần chưa dám nhờ ai, nên tôi tự mình viết luôn
    lời tựa cho cuốn sách này, như một người lính được lệnh bước
    lên dưới quân kỳ, tự giới thiệu mình trước mặt hàng quân.
    Ba mươi sáu phố phường yêu dấu ta ơi
    Mỗi một người đi hồn nhói tên một phố
    Gió chôn vội mắt đêm nhiều ô cửa
    Sáng nay mưa buồn lòng còn mỗi ngoại ô.
    Hà Nội, mùa hè năm 2017

    Nhập ngũ
    T
    ÔI VĨNH BIỆT TUỔI HỌC TRÒ bằng một cú va chạm mạnh.
    Miền Bắc hồi đó, chị em toàn dùng một loại “quang treo” cùng
    một kiểu. Nó dày, các lớp vải được tích kê đồng tâm chặt với
    nhau thành hình nón. Đặc biệt cái mũi cứng và nhọn hoắt nên sơ
    mi mặc ngoài tại vị trí đó bị sờn trước tiên. Chẳng ai tò mò nhìn
    mãi vào đấy nhưng không hiểu sao nó cứ thường xuyên chọc vào
    mắt. Người nào ham sưu tầm các tranh cổ động hẳn biết cái
    “quang treo” kiên cố đó nó ảnh hưởng đến nền mỹ thuật hội họa
    tuyên truyền cổ động của chúng ta như thế nào. Trên các áp
    phích này thường thể hiện anh công nhân vạm vỡ chắc tay búa,
    gương mặt cương nghị rắn rỏi. Đứng cạnh là cô gái nông dân
    khỏe khoắn, dồi dào núi đôi, cầm liềm vươn tới cánh đồng năm
    tấn. Tôi năm đó 18 tuổi, đang học lớp 10 trường Phan Đình
    Phùng - Hoàng Diệu, phố Cửa Bắc hệ 10 năm. Thằng con trai 18
    tuổi thời đó còn dại lắm, không quái như bọn trẻ con bây giờ. Vẫn
    dở ông dở thằng, đôi khi còn mặc quần đùi thông lổng ra hồ Hoàn
    Kiếm câu tôm trong những ngày nghỉ. Một lần cùng bọn con trai
    đuổi nhau trong trường, tôi chạy ngoặt qua cái góc cầu thang gỗ,
    ngực va sầm vào một cô giáo thực tập đang đi lên. Tôi đỡ cô giáo
    dậy, lúng búng xin lỗi rồi xấu hổ biến mất. Nhưng vết sẹo vô hình
    bởi sự va chạm chết người trên ngực thì không mất, nó lẩn quất
    đâu đó mãi trong đầu. Vết sẹo vô hình thời áo trắng làm tính tình
    trở nên chững chạc thanh niên hơn hẳn.
    Thời đó áo trắng cũng hiếm. Gần nửa thời gian thơ ấu của tôi
    sống cùng Hà Nội dưới trời bom Mỹ thả. Thêm hai lần sơ tán nối
    nhau. Áo trắng của tôi bị nhúng vào chậu xanh-mê-ti-len do bố
    mang về để nguỵ trang. Tuổi thơ trải qua chiến tranh phá hoại
    quả thật không may cho một đứa trẻ con. Nhưng chính những
    trận bom, tầm cao xạ cùng tiếng B.52 rền trời ấy làm tôi không bị
    bất ngờ trong chiến trận sau này. Cũng chính cuộc sống nơi sơ
    tán thôn quê đã giúp mình tự lập, thay đổi thói quen, thích nghi
    với những hoàn cảnh khó khăn dã ngoại. Sau kỳ thi đại học năm
    1978, tôi đi nghỉ hè trên viện bố tôi công tác ở Vĩnh Phúc. Ngày

    chủ nhật, tôi theo nhân viên viện ông lên Tam Đảo chơi. Tháng
    tám, đang mùa thu hoạch cây xuyên khung. Thị trấn trên núi vắng
    teo, thơm ngát mùi xuyên khung héo phơi đầy trên những con
    đường dốc.
    Chiều tối, khi trở về gần đến Vĩnh Yên trời đổ cơn mưa. Ngoài
    cửa sổ xe ca hồng thập tự, một đoàn lính đang lặng lẽ hành
    quân. Họ trùm ni lông sù sù, cắm cúi bước trên con đường ướt
    loáng ánh đèn pha. Trong xe thật ấm, và chỉ một chút nữa thôi là
    về đến nhà để duỗi dài đôi cẳng đã mỏi nhừ vì leo dốc núi, mở
    chiếc đài Hồng Đăng trong phòng nghe ca nhạc. Nhưng có một
    điều gì đó như dự cảm đồng vọng, bắt tôi phải nhìn theo mãi
    đoàn quân ấy. Dự cảm bỗng trở thành hiện thực trong vòng 30
    phút. Về đến viện gặp bố, ông bảo: “Mai về Hà Nội. Con có lệnh
    nhập ngũ”.
    Chỉ bốn tháng sau, chúng tôi đã thành đồng đội, cũng hành quân
    rạc rài như thế, cũng chui hầm ngủ đất, không biết sống chết thế
    nào ở một nơi xa lắc.

    Tân binh
    S
    Ẽ LÀ MỘT THIẾU SÓT LỚN trong câu chuyện biên giới Tây Nam
    khi không nhắc gì đến làng quê chúng tôi huấn luyện tại đó trước
    khi vào chiến trường. Nơi đây xóm Núi, thôn Lãm, huyện Kim
    Thanh, tỉnh Hà Nam Ninh, gần ga Bình Lục. Một làng quê Bắc Bộ
    vùng đồng chiêm trũng điển hình. Những ngọn đồi thấp cắm chân
    thẳng xuống đồng sâu. Tre gai bao bọc lấy làng thành lũy dày
    ngăn ngắt.
    Dân làng nghèo, nhiều nhà phải ngả cả cánh cửa xuống, lấy chỗ
    nằm cho bộ đội. Tôi với Tuấn Anh được anh Ly tiểu đội trưởng
    đưa về nhà một chị có chồng đi lính chống Mỹ. Chị có thằng bé
    con mới học lớp một. Tuấn Anh cho nó cái bánh mì. Nó nhìn mẹ
    rồi ngập ngừng cầm lấy. Đã ba năm kể từ ngày thống nhất, chồng
    chị vẫn không có tin tức gì. Chị rất ít nói, buồn như một cái bóng.
    Mờ đất, khi chúng tôi mới nghe tiếng còi báo thức sáng của anh
    Ly đã thấy chị cuốn xà cạp vào chân, kéo cành rong tre lấp cổng
    ra đồng rồi.
    Xà cạp là miếng vải cuốn vào bắp chân, cao đến tận đùi để chống
    đỉa. Đồng chiêm trũng nên đỉa rất nhiều. Đỉa hẹ nhỏ, mỏng như
    cái que, hai lườn vàng choé nhưng rất thính, động nước là lao
    đến liền. Con này rất sợ vì nó tham ăn, lại hay luồn lách được
    vào những chỗ không ngờ. Đỉa trâu là nỗi khủng khiếp nhất. Khi
    đói nó co lại chỉ bằng cái dái mít. Khi đã no máu, nó trương lên
    cỡ chục lần bằng quả chuối tiêu.
    Những buổi chiều tập xong ngồi nghỉ ở sân kho cũng là lúc đàn
    trâu hợp tác đi cày về. Trâu dồn ở sân kho trệu trạo nhai lại, ngửi
    hít cọ sừng cồng cộc. Trên đùi bầy trâu thường có một túm đỉa
    lúc lỉu căng máu. Chúng tôi bẻ cành rong, hò nhau đi bắt đỉa cho
    từng con. Những con đỉa khủng long rơi xuống, lấy chân dẫm lên
    day mạnh. Hai tia máu đỏ phọt ra từ cả hai đầu thành vòi, vụt xa
    đến cả mét. Vẫn chưa hả, chúng tôi đốt rơm, gắp lũ đỉa thảy vào.
    Những con đỉa nổ trong lửa bụp bụp, tiết dở sống dở chín văng
    tung toé. Thằng Trương muốn thể hiện bản lĩnh trước anh em. Nó
    nướng cháy từ từ một con đỉa cho đến khi vỏ ngoài thành than.

    Hắn bóc cái vỏ da đỉa đen cháy, cầm miếng tiết trâu nóng hổi cho
    thẳng vào mồm nhai, nhăn nhở mặt làm trò.
    Một tuần sau, thấy chúng tôi ở nhà chị ấy có vẻ không tiện, anh
    Ly lại lôi hai thằng tôi về ở cùng. Nhà này khá to, có thềm đá mái
    ngói, vốn là nhà tịch thu của địa chủ thời cải cách ruộng đất. Ông
    chủ nhà là chủ nhiệm hợp tác xã có con đi bộ đội trong Nam. Hai
    ông bà cùng cô con gái út 17 tuổi tên là Độ ở nhà trên. Bọn tôi
    được xếp ở nhà ngang phía dưới. Toàn bộ khu nhà đó nằm thoải
    từ chân núi xuống cái giếng cạnh đường làng.
    Cái giếng sâu lắm, dây lại ngắn nên mỗi lần Độ cúi nhoài người
    giật gàu múc nước thường bị lạnh lưng hở sườn. Khoảng mát
    trong thanh khiết thấp thoáng dưới tà áo xanh chàm. Những ngày
    mưa ngâu, chúng tôi không ra thao trường được, nằm tập ngắm
    bia con chấm bút bi ở trong nhà sao cho tia ngắm chụm. Ngắm
    bia thì ít, ngắm phần trăng trắng dưới vạt áo đang múc nước
    ngoài giếng kia thì nhiều. Mục tiêu di động này thu hút hơn bia.
    Anh Ly tiểu đội trưởng bực mình nổi máu quân tử mã thượng, đi
    mua một cái chạc dài thay cho cái dây gàu ngắn. Lại bắt tụi tôi
    mỗi đứa mỗi ngày hai gánh nước đổ lên bể trên cho nhà em Độ.
    Em Độ không cảm cái oai với sợi thừng dài của anh Ly mà thông
    cảm với chúng tôi. Ngày đó quán bà Bóp cây đa bán 2 hào một
    quả bưởi. Sau khi bộ đội về làng, bà điều chỉnh giá lên kịch
    đường tàu thành 5 hào. Tôi với thằng Tuấn Anh ở đó thích là có
    bưởi ăn liền, khỏi mua vì Độ cho. Bưởi đầy sau núi vườn nhà. Tối
    thứ tư sinh hoạt trung đội đọc báo sân kho. Tôi cáo ốm không đi.
    Lúc về anh Ly đi khẽ, lia đèn pin thấy tôi không ốm, đang ngồi ăn
    bưởi rinh rích vô tư cùng em trên bực giếng. Anh Ly hầm hầm ra
    lệnh: “Từ nay ngồi nói chuyện với phụ nữ hoặc với nữ đoàn viên
    thanh niên địa phương ban tối thì phải đốt đèn dầu. Đèn dầu phải
    để giữa hai người”.
    Có ai còn nhớ quả chấp? Nó giống như quả cam, vỏ màu vàng,
    múi bên trong chua gắt. Độ hay gội đầu bằng nước bồ kết nướng,
    thêm nhánh sả và mấy miếng vỏ bưởi. Em đứng dưới sân, xổ tóc
    ra trong chậu nước đặt trên thềm đá cao, từ từ chải thật kỹ, thật
    cẩn thận. Sau cùng nước tráng vắt nửa quả chấp vào chải tiếp.
    Nước quả chấp chua làm cho tóc mượt mềm. Đâu đó xong xuôi,
    Độ vuốt tóc cho nước xuôi xuống. Động tác cuối cùng là mê ly
    nhất, em đứng giữa sân, nắm suối tóc sát đầu ngay ngọn nguồn

    rồi quay vù vù như máy bay lên thẳng. Mái tóc nặng, vóc hình
    thôn nữ khỏe khoắn lắc dẻo như múa ba lê, phơi cái cổ thon thon
    tròn nõn chuối. Nước mát li ti, thơm bay lỏa tỏa khắp mặt sân kết
    cầu vồng trong nắng. Tưởng như có thể bay lên được vì tóc em
    dài lắm.
    Tôi trở lại thăm nơi huấn luyện cũ ở xóm Núi, thôn Lãm, huyện
    Kim Thanh, tỉnh Hà Nam Ninh năm 2010. Hỏi thăm em Độ, người
    làng nói em đã mất, bị đuối nước ngoài cống Non. Cái sân kho
    đại đội tập thể dục trước cũng không còn. Ngậm ngùi tìm lại nhà
    thắp cho em mấy nén nhang, để lại chút quà nhỏ rồi đi.

    “Trịnh Công Sơn” làm cỏ lúa
    S
    AU KỲ BẮN ĐẠN THẬT, khoa mục tập nhàn hẳn. Buổi sáng lười,
    trốn tập thể dục không ai nói. Chúng tôi có thời gian lần mò cải
    thiện tẩm bổ. Nắng đi vớt ốc bươu, mưa mượn lưới dân đi lưới
    cá ở ao hợp tác vượt ra mương. Dù đã vượt bờ nhưng cá hợp
    tác vẫn là cá tập thể. Đất quê vùng chiêm trũng mơ màng trong
    những buổi trưa hanh gắt nắng rám trái bòng. Giống ốc bươu ốc
    nứa vỏ mỏng vàng xọng, dồn khí bên trong từ từ nổi lên trên mặt
    nước, nhờ cơn heo may dài rộng đủng đỉnh làm chuyến viễn du
    trên mặt sóng lăn tăn. Nghỉ trưa mang vợt ra đi vớt ốc. Ốc mùa
    này tích mỡ ngủ đông nên béo lắm. Trong những bó rạ được
    người ta buộc túm, bỏ lại trên ruộng chờ khô để rải liếp màu là
    nơi trú ngụ của cua đồng. Nhấc ra chắc chắn túm được dăm con.
    Còn trong những dấu thụt chân người đọng nước trên mặt bùn
    đã xanh rêu, thọc tay khua khoắng cũng túm được mấy con cá
    đòng đong, mài mại hay cá giếc nhỏ đem về nhờ chủ nhà kho
    khế.
    Những chiều cuối thu, nằm dài trên bờ mương dưới bóng bạch
    đàn ngắm bia mẹ con, ngắm các em cong mông đẩy xe cải tiến.
    Đồng đã gặt xong vắng tênh. Chân rạ bời bời sắp hàng trắng
    mốc, tương phản với bầu trời kéo ngược hút lên sâu thăm thẳm.
    Không gian bắt đầu chuyển lạnh thấy rõ. Đất chỗ đơn vị tôi huấn
    luyện ở cách Bình Lục, Yên Đổ, quê cụ Tam Nguyên chưa đến 4
    cây số. Hẳn ngày xưa, cụ cũng sống trong cái không gian đồng
    đất xóm mạc Bắc Việt cuối thu buồn bã này nên mới bị cảm lạnh,
    mà than rằng “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo”.
    Thời gian huấn luyện, khẩu phần ăn của bộ đội cực kỳ kham khổ.
    Bữa sáng ăn ngô xay nấu như kiểu nấu cơm, có cho chút vôi để
    ngô mềm, thường thường là nát như bánh đúc. Gác ca cuối tôi
    hay mò vào cạy cửa bếp ăn vụng cháy. Trên mỗi chậu nhôm chia
    ngô, chị nuôi úp một miếng cháy. Cháy ngô nấu chảo gang dày
    khi ăn nóng khá giòn và ngon. Bữa trưa và chiều thì cơm ngô
    theo tỷ lệ 50/50. Thức ăn là rau muống chấm nước mắm gạo
    rang. Một chút cá khô mục nữa. Còn thịt hồi đó được định nghĩa

    là thức ăn hằng ngày của nhân dân mà bằng mắt thường ta
    không thể nào nhìn thấy được.
    Thằng Long “Nhuận” ở 54 Hàng Giấy, gần hiệu sách Yên Sơn, có
    mang theo một cây guitar. Nó là học trò ông Văn Vượng, chơi
    classic khá hay. Ngón trémolo(1) những bài Bài ca hy vọng, Vũ
    khúc Tây Ban Nha... nghe không khác trên đài là mấy. Tôi cũng
    mới tập tọe học chơi. Đã thế lại còn thích sáng tác. Một sáng tác
    nhái của tôi theo giai điệu bài Hạ trắng của Trịnh Công Sơn thế
    này:
    “Tuyệt quá.....!
    Bữa cơm chúng mình
    Toàn rau muống xanh

    Bát cơm ngô vàng
    Đệm cho món canh
    Tép kho hôi rình
    Ngửi sao thấy tanh

    Nghẹn không muốn nuốt
    Biết sao bây giờ...?

    Cho nên em buồn
    Cho nên em chuồn
    Về nơi phố cũ....”
    Nhiều đứa không biết Hạ trắng là bài nào, nhưng lại thuộc lòng
    cái lời xuyên tạc chết tiệt. Một tối, đang gân cổ say sưa trình tấu

    Hạ trắng thì anh Cường chính trị viên vồ được. Anh ấy hỏi:
    “Thằng nào sáng tác bài hát này?”. Tôi bảo: “Dạ là Trịnh Công
    Sơn”. Anh ấy bợp tai tôi phát, bảo: “Đồng chí đừng có bố láo. Đại
    đội này không có quân nhân nào tên là Trịnh Công Sơn cả. Mai đi
    làm cỏ lúa!”.
    Ba hôm liền, cứ sau bữa trưa, mọi anh em về đánh giấc thì tôi ra
    ruộng làm lao công dưới sự giám sát của anh Ly tiểu đội trưởng.
    Anh ấy lầm bầm chửi: “Tiên sư mày, vì nhân dân quên mình
    không hát, đi hát nhăng hát cuội. Tiên sư mày, vì mày mà bố mày
    khổ lây”.

    Chủ nhật cuối cùng
    S
    AU MỘT THỜI GIAN, chúng tôi được chuyển ra phía ngoài Mậu
    Chử. Xóm đạo bé nhỏ có cây cầu xi măng bắc qua kênh đầu
    làng. Đơn vị huấn luyện tá túc tại đây đã hành quân trước vào
    Nam. Đêm nằm nghe tiếng còi tàu rít u u .. Chẳng biết bao giờ
    đến lượt đơn vị mình lên đường.
    Đêm cuối thu càng lúc càng lạnh. Tiếng chó sủa ong óc lúc xóm
    gần, lúc làng xa như có động vì quân cảnh đuổi bắt lính trốn. Một
    số tiểu đoàn đã lục tục lên đường. Cái dự cảm lên đường hồi hộp
    nao lòng, bắt đầu từ những tiếng chó sủa đêm đêm, từ những
    đoàn gia đình nhà lính vào thăm ngày càng nhiều. Bố mẹ tôi cũng
    vào thăm một lần. Tôi gửi lại cây guitar mang theo vào đơn vị cho
    bố mang về. Cây đàn này nay vẫn còn, đang treo trên tường.
    Chiều hôm song thân ra về, tôi tiễn ra đến đường cái quan. Nhớ
    mãi hình ảnh bố gò lưng đạp cái xe Nam ngược gió Bắc ra ga
    Phủ Lý, đèo mẹ đằng sau tay chống cây đàn. Bố mẹ tôi là viên
    chức nghèo, không có tiền nhiều để cho. Nhưng một số anh em
    gia đình buôn bán hay có nghề phụ gia công được cho khá nhiều.
    Chúng tôi gom tiền, mua hàng mũ trứng vịt luộc ăn với nhau.
    Ngày chủ nhật trước khi lên đường, cả bọn đụng luôn con chó
    gié. Bác chủ nhà đi đạo không ăn thịt chó nhưng thương mấy
    đứa sắp phải vào chiến trường, đứng ra gọi người làm hộ. Bên
    bờ ruộng khô trắng vì gió bấc đầu mùa, anh ba toa rút những
    nắm rơm nhỏ đốt quạt phành phạch, lật đi lật lại con chó, thui lại
    những chỗ da còn trắng. Tụi lính lui cui vây xung quanh vun đốt
    bụi cây muồng khô. Quả muồng nổ lốp đốp trong lửa. Da chó dần
    vàng rộm, căng nứt ra những chỗ quá nhiệt. Mùi rơm đốt, mùi
    muồng cháy, mùi chó thui bên bờ ruộng quẩn quanh rặng bạch
    đàn trong gió đầu đông.
    Đó là ngày chủ nhật cuối cùng trên đất Bắc. Tôi chỉ nghĩ đơn giản
    nếu được vào miền Nam cũng tốt. Một vùng đất mới chỉ biết qua
    sách vở. Vào đó may có khi được đi Sài Gòn xem dinh Độc Lập,
    đi Cà Mau xem sân chim hay xuống Cần Thơ chỗ anh Phát tôi
    đóng quân, ăn trái cây một bụng ngon hết sảy như anh ấy kể.

    Hoàn toàn không có một khái niệm về cuộc chiến tranh biên giới
    Tây Nam. Các vụ lấn chiếm lẻ tẻ của Pôn Pốt mà báo đài đưa tin
    không gây một ấn tượng gì. Dẹp mấy vụ đó có các sư đoàn thiện
    chiến hùng mạnh cùng một đống vũ khí tối tân của Mỹ vừa thu
    được. Liệu bọn nó sức mấy. Đơn vị mình vào đó có khi chỉ làm
    nhiệm vụ xây dựng kinh tế là cùng. Hồi đó không chỉ tôi mà nhiều
    người nghĩ như thế.

    Chuyến tàu quân sự
    S
    ÁNG HÔM 18/11/1978, tiểu đoàn huấn luyện báo động di chuyển,
    hành quân ra Phủ Lý.
    Từ Mậu Chử ra thị xã chỉ khoảng 6km nên đến gần trưa đã tới
    nơi. Các tiểu đoàn khác trong trung đoàn huấn luyện (E104) đã
    tập kết đầy đủ. Cổng sân vận động được đóng chặt lại. Trưa hôm
    đấy, toàn trung đoàn ăn bánh mì trừ bữa. Khoảng 2h chiều, một
    đoàn văn công quân đội đến biểu diễn úy lạo. “Đường ra trận
    mùa này đẹp lắm. Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây”. Tôi
    không nhớ Trường Sơn Tây, tôi nhớ mẹ tôi, nhưng thấy may khi
    mẹ tôi không có mặt. Lúc này lòng dạ đâu mà nghe hát. Một số
    thằng lính tai quái ngồi gần ném rào rào những khẩu xương mía
    nhai dở lên sân khấu. Các ca sĩ vừa say đắm hát, vừa né những
    tạc đạn vô hồi.
    Khoảng 4 giờ chiều, đơn vị hành quân vào ga Phủ Lý giữa hai
    hàng vệ binh. Từ sân vận động ra ga tàu chỉ khoảng 1 cây số. Tôi
    đi trong đội hình hành quân, ngoái lại thấy con em gái với mẹ
    thằng Thắng Hàng Bè, thêm gia đình thằng Lâm và một số gia
    đình khác đuổi theo hàng quân. Họ đến thăm thường nhật, bất
    ngờ với cuộc chuyển quân này. Thằng Thắng học khác lớp
    nhưng cùng trường với tụi tôi. Đám đàn bà con gái xông vào
    nhưng bị vệ binh gạt ra. Mấy thằng lính Hà Nội nổi khùng vặc lại.
    Đội vệ binh không làm căng, để mặc họ ôm quấn lấy nhau trong
    nước mắt. Hình ảnh này in đậm trong tâm trí, thành thử bây giờ
    khi xem lại đoạn đầu đặc tả cảnh tòng quân trong phim Đàn sếu
    bay qua, cổ họng tôi như nghẹn lại. Một cô gái váy trắng lớ ngớ
    len lỏi tìm người yêu đi lính giữa hai hàng thiết giáp. Tiếng kèn
    vang vọng lên hành khúc. Hộp bánh bích quy sinh nhật tặng
    người yêu đổ òa tan vụn dưới vòng xích xe tăng, tan vụn dưới
    những gót quân hành.
    Bốn đứa cùng lớp, cùng đơn vị tách thành hai nhóm. Khi lên tàu
    yên vị, tôi với thằng Tuấn Anh ngồi cạnh nhau. Thằng Bình, thằng
    Hiệp ngồi ở toa khác. Các cửa toa đóng lại. Hàng lính cảnh vệ và

    những người thân hôm đó vô tình lên thăm bộ đội ráng ở lại đến
    cuối chiều chờ phút chia ly. Tàu chuyển bánh, sân ga lùi dần.
    Ga Nam Định, tàu dừng một lát ngắn. Rất đột ngột, bố thằng
    Tuấn Anh xuất hiện ở ngay đầu toa. Ông học ngành đường sắt ở
    Bắc Kinh, lúc đó đang là trưởng phòng điều độ ga Hàng Cỏ nên
    biết rõ hành trình của các chuyến tàu. Chỉ ông mới có đủ trách
    nhiệm và quyền hạn để lên được toa quân sự này. Ông cho
    chúng tôi một ít tiền, dặn rằng: “Anh em chúng mày dù ở đâu
    cũng phải bao bọc lấy nhau”. Bố nó cũng như bố tôi. Mấy tháng
    trước khi vừa thi xong được nghỉ hè, chúng tôi còn đạp xe lang
    thang ngoài đường. Đi chơi về muộn, chổng mông tắm ở máy
    nước công cộng cho khỏi nóng. Khuya mới về nhà nó lục cơm
    nguội ăn rồi lăn ra nền ngủ. Sự hiện diện của ông tại toa này như
    nhắc những ngày hè học sinh cuối cấp còn rói tươi hoa phượng.
    Ông lặng lẽ xuống toa, lên chuyến tàu tránh ngay tại đó ngược
    trở lại Hà Nội. Tôi vẫn nhớ lúc đó trời còn chưa tối hẳn, mặc dù
    mấy ngọn đèn hành lang trên ga đã heo hắt sáng.
    Con tàu trôi vào đồng bằng tối đen. Những chấm vắng đèn đêm
    xa lắc, ngược chậm qua cửa sổ trong tiếng bánh xe lăn ù ù. Đến
    sáng, sự buồn chán hôm trước tan biến. Chúng tôi dán mắt vào
    khung cảnh bên đường luôn thay đổi. Những vùng đất trước chỉ
    biết qua sách vở đang trôi qua cửa sổ khiến lòng người háo hức.
    Đường sắt Quảng Bình nhiều đoạn chạy lút giữa dải đồi gianh
    cao ngập đầu người. Đoạn đường đất heo hút cắt ngang, có đám
    em bé mặc áo mà không có quần nheo nhóc trông theo. Cây cầu
    sắt nhỏ bắc qua lạch nước réo lên ù ù khi tàu vượt. Con ngòi lẩn
    trong vòm tre vùng thượng du có màu xanh thủy tinh đặc biệt.
    Những con sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu nào đó, mới nghe tên như
    đã gọi mưa miền hoang vu xa vắng. Cung đường sắt xuyên Việt
    được đánh dấu từng tên ga trong cuốn lịch bỏ túi xinh xắn. Tôi
    chúi mũi vào đó để tra tên ga xép, biết mình đang đi qua đâu.
    Một phác thảo theo ấn tượng còn lại:
    “Cầu Hiền Lương bé tí.
    Cửa Tùng bên tay trái xa kia.
    Nơi đó cách đây 18 năm,

    Nửa đêm bố đạp xe ra Hồ Xá.
    Đánh điện về nhà đặt tên cho mình.
    Lịch kịch! Rình rình…
    Quảng Trị cát trắng.
    Những ruộng ớt đỏ.
    Những con đường vắng.
    Những nhà tôn tạm bợ không người.
    “Đây là ga Huế!”
    Các công tằng tôn nữ mập và đen.
    Vị trà đá uống chưa quen.
    Lăng Cô: năm hào một đống ghẹ luộc.
    Hải Vân đệ nhất hùng quan,
    Hổn hển hai đầu tàu kéo đẩy.
    Chui hầm tối.
    Lính mồm reo,
    Mắt chợt xót cay đầy bụi.
    Chẳng cái ngu nào giống cái ngu này!
    Đà Nẵng tàu chạy giật lùi.
    Tam Kỳ: Đồồng rỡi một con gồ.
    Dịch mãi mới ra
    Eng nói thế
    Bố thằng tây nó hiểu.”

    Hành trình xuyên Việt bằng xe lửa kết thúc ở ga Hố Nai. Đoàn
    lính mới vào trạm Long Bình, sau đó được chuyển về căn cứ Sư
    đoàn 9 ở Trảng Lớn, thị xã Tây Ninh.

    Trảng Lớn – Tây Ninh
    T
    HỊ XÃ BIÊN GIỚI bé nhỏ xanh ngắt, nằm yên tĩnh giữa vùng đất
    đỏ. Đoàn xe quân sự vừa dừng bánh, các dì, các em chìa tận
    cửa xe mời mua những bịch nước mía đá, những gói kẹo đậu
    phộng. Lời rao véo von vui tai như câu hát giỡn. “Mía ghim mía
    ghim. Năm hào một cây mía ghim...” xe lôi, xe thổ mộ đôn đáo
    ngược xuôi. Toà Thánh Cao Đài, chợ Long Hoa người đi lại nhộn
    nhịp. Đám đông dân chúng điểm nhiều sắc lính áo xanh. Trong
    quán cóc, dăm ba thương binh đại ca chống nạng băng tay phì
    phèo thuốc rê, ánh mắt kẻ cả âu sầu nhìn đoàn lính ngố.
    Chúng tôi được gom vào Tiểu đoàn 31, một tiểu đoàn với chức
    năng huấn luyện bổ sung của Sư đoàn 9 tại căn cứ. Nhưng
    những ngày ở đó cũng không huấn luyện thêm gì. Quanh Trảng
    Lớn
     
    Gửi ý kiến

    Danh ngôn về sách

    “Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    Nhúng mã HTML

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TỨ CƯỜNG, XÃ THANH MIỆN, TP HẢI PHÒNG !